Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I: Phân tích danh mục thuốc huyện Mường Chà, Điện Biên năm 2019 - HV Hoàng Trọng Linh

Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Mường Chà, Điện Biên năm 2019 theo phương pháp ABC/VEN. Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I của HV

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2020

73
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phân tích danh mục thuốc huyện Mường Chà năm 2019

Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I về phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên năm 2019 là nghiên cứu khoa học đánh giá toàn diện thực trạng sử dụng thuốc tại cơ sở y tế tuyến huyện miền núi. Nghiên cứu do học viên Hoàng Trọng Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Xuân Thắng, Trường Đại học Dược Hà Nội. Trung tâm Y tế huyện Mường Chà đóng vai trò then chốt trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân khu vực Tây Bắc. Danh mục thuốc tại đây bao gồm thuốc hóa dược và thuốc dược liệu cổ truyền, được lựa chọn theo tiêu chí của Bộ Y tế. Phương pháp phân tích ABC, VEN và ABC/VEN được áp dụng để đánh giá cơ cấu, giá trị và mức độ cần thiết của từng nhóm thuốc. Kết quả ghi nhận tổng cộng 271 thuốc sử dụng, gồm 231 thuốc hóa dược và 40 thuốc dược liệu. Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước chiếm ưu thế với 79,34% về số lượng mặt hàng. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc tối ưu hóa quản lý dược tại tuyến y tế cơ sở.

1.1. Khái niệm danh mục thuốc và vai trò trong bệnh viện

Danh mục thuốc bệnh viện là danh sách chính thức các loại thuốc được phê duyệt sử dụng tại cơ sở khám chữa bệnh, bao gồm thuốc hóa dược, sinh phẩm và dược liệu cổ truyền. Việc xây dựng danh mục tuân thủ Thông tư 23/2011/TT-BYT của Bộ Y tế, đảm bảo cung cấp đủ thuốc cho nhu cầu điều trị đồng thời kiểm soát hiệu quả chi phí. Các tiêu chí lựa chọn thuốc bao gồm tính an toàn, hiệu quả lâm sàng, chi phí hợp lý và phù hợp với mô hình bệnh tật địa phương. Hội đồng thuốc và điều trị chịu trách nhiệm phê duyệt và rà soát định kỳ danh mục, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn trong sử dụng thuốc tại mỗi cơ sở y tế.

1.2. Giới thiệu Trung tâm Y tế huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên

Trung tâm Y tế huyện Mường Chà thuộc tỉnh Điện Biên, khu vực miền núi Tây Bắc với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Đơn vị có chức năng khám chữa bệnh ban đầu và chăm sóc sức khỏe cộng đồng cho hơn 40.000 dân. Mô hình bệnh tật chủ yếu liên quan đến nhiễm khuẩn, bệnh đường hô hấp, tiêu hóa và các bệnh lý mãn tính. Khoa Dược chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ hoạt động dược phẩm, từ mua sắm, bảo quản đến phân phối thuốc cho các khoa lâm sàng. Nghiên cứu năm 2019 ghi nhận 271 loại thuốc trong danh mục sử dụng, phản ánh quy mô hoạt động của đơn vị.

II. Phân tích kết quả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng năm 2019

Phân tích cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc sản xuất cho thấy thuốc sản xuất trong nước chiếm ưu thế rõ rệt với 215 mặt hàng (79,34%), tương ứng 82,71% giá trị sử dụng. Thuốc nhập khẩu chỉ có 56 mặt hàng (20,66%) nhưng tập trung ở nhóm chuyên khoa như tim mạch, kháng sinh beta-lactam và dung dịch tiêm truyền. Tỷ lệ thuốc nội địa cao phản ánh chủ trương ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước theo chính sách Bộ Y tế. So sánh với các huyện trong khu vực, tỷ lệ này tương đương huyện Thuận Châu (Sơn La) đạt 65,3% và huyện Pác Nặm (Bắc Kạn) đạt 64,54%. Về cơ cấu thành phần, thuốc đơn thành phần chiếm ưu thế tuyệt đối với 198 mặt hàng (85,72%), giá trị sử dụng 89,61%. Thuốc đa thành phần chỉ có 33 mặt hàng (14,28%), chiếm 10,39% giá trị. Đặc biệt, 100% thuốc trong danh mục là thuốc generic, không có biệt dược gốc. Kết quả này cho thấy việc tuân thủ nghiêm túc chính sách sử dụng thuốc generic và thuốc đơn chất của Bộ Y tế tại tuyến y tế cơ sở.

2.1. Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc sản xuất trong nước và nhập khẩu

Thuốc sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ áp đảo tại Trung tâm Y tế huyện Mường Chà với 215 mặt hàng, tương đương 79,34% tổng số và 82,71% giá trị sử dụng. Thuốc nhập khẩu 56 mặt hàng (20,66%) chủ yếu thuộc nhóm tim mạch, kháng sinh chống nhiễm khuẩn beta-lactam và dung dịch điều chỉnh nước điện giải. So sánh với các huyện lân cận, huyện Thuận Châu (Sơn La) có tỷ lệ thuốc nhập khẩu 34,7%, huyện Pác Nặm (Bắc Kạn) 35,46%, huyện Bắc Yên (Sơn La) 47,45%. Sự khác biệt này phản ánh đặc thù mô hình bệnh tật và chính sách mua sắm tại từng địa phương.

2.2. Cơ cấu thuốc đơn thành phần và đa thành phần trong danh mục

Thuốc đơn thành phần chiếm ưu thế vượt trội trong danh mục hóa dược với 198 mặt hàng (85,72%), tổng giá trị sử dụng đạt 89,61%. Nhóm thuốc đa thành phần chỉ có 33 mặt hàng (14,28%), chiếm 10,39% giá trị. Phân tích này phản ánh việc tuân thủ chủ trương của Bộ Y tế về ưu tiên sử dụng thuốc đơn chất trong điều trị, nhằm kiểm soát tác dụng phụ và tối ưu hóa hiệu quả lâm sàng. Thuốc đa thành phần thường được chỉ định trong trường hợp bệnh phối hợp hoặc cần tác dụng hiệp đồng, nhưng cần quản lý chặt chẽ để tránh kê đơn không hợp lý và lãng phí nguồn lực.

III. Phương pháp phân tích ABC VEN đánh giá danh mục thuốc

Phương pháp phân tích ABC là công cụ phân loại thuốc theo giá trị sử dụng kinh tế, chia thành ba nhóm: A (20% số mặt hàng chiếm 80% giá trị), B (30% số mặt hàng chiếm 15% giá trị) và C (50% số mặt hàng chiếm 5% giá trị). Phương pháp này giúp xác định nhóm thuốc trọng tâm cần ưu tiên quản lý về chất lượng và nguồn cung. Tại Trung tâm Y tế huyện Mường Chà, nhóm A bao gồm chủ yếu kháng sinh, thuốc tim mạch và dung dịch tiêm truyền - nhóm thuốc có giá trị cao và nhu cầu sử dụng lớn. Phương pháp VEN phân loại thuốc thành V (Vital - thiết yếu), E (Essential - cần thiết) và N (Non-essential - không thiết yếu). Khi kết hợp ABC/VEN, nghiên cứu đánh giá đồng thời cả khía cạnh kinh tế và mức độ cần thiết lâm sàng. Phương pháp ABC/VEN giúp nhận diện thuốc nhóm C-N (giá trị thấp, không thiết yếu) để xem xét loại bỏ, đồng thời ưu tiên dự trữ nhóm A-V đảm bảo cung ứng liên tục cho điều trị.

3.1. Nguyên tắc và quy trình thực hiện phân tích ABC trong quản lý dược

Phân tích ABC dựa trên nguyên tắc Pareto (80/20), trong đó khoảng 20% số mặt hàng thuốc chiếm tới 80% tổng giá trị sử dụng được xếp nhóm A. Quy trình thực hiện bao gồm: thu thập dữ liệu mua và sử dụng thuốc trong năm nghiên cứu, tính toán giá trị sử dụng từng mặt hàng, sắp xếp giảm dần theo giá trị, phân loại thành ba nhóm A-B-C. Nhóm A yêu cầu quản lý chặt chẽ nhất về chất lượng, hạn sử dụng và tồn kho. Nhóm B được quản lý ở mức trung bình. Nhóm C với số lượng mặt hàng lớn nhưng giá trị thấp, cần rà soát để tối ưu hóa danh mục.

3.2. Kết hợp phương pháp VEN và ABC VEN trong đánh giá danh mục thuốc

Phương pháp VEN phân loại thuốc dựa trên mức độ cần thiết lâm sàng: V (Vital) là thuốc thiết yếu không thể thay thế trong điều trị, E (Essential) là thuốc cần thiết có thể thay thế bằng thuốc tương đương, N (Non-essential) là thuốc không thiết yếu hoặc dùng theo yêu cầu. Khi kết hợp với phân tích ABC tạo thành ma trận ABC/VEN, mỗi thuốc được đánh giá trên hai chiều kinh tế và lâm sàng. Ma trận này giúp cơ sở y tế xây dựng chiến lược mua sắm, dự trữ hợp lý, đảm bảo cung ứng đủ thuốc thiết yếu đồng thời tiết kiệm chi phí cho thuốc không thiết yếu.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu danh mục thuốc

Kết quả nghiên cứu phân tích danh mục thuốc tại Trung tâm Y tế huyện Mường Chà năm 2019 cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng sử dụng thuốc tại tuyến y tế cơ sở miền núi. Tổng cộng 271 thuốc được sử dụng, trong đó thuốc sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ áp đảo 79,34% và 100% thuốc là dạng generic. Danh mục chủ yếu gồm thuốc đơn thành phần 85,72%, phù hợp chủ trương Bộ Y tế. Phương pháp phân tích ABC/VEN chứng minh hiệu quả trong đánh giá cơ cấu và mức độ cần thiết lâm sàng của thuốc. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số tồn tại như sự phụ thuộc vào nhóm thuốc nhập khẩu đắt tiền ở một số chuyên khoa. Việc áp dụng thường xuyên phương pháp phân tích dược lý kinh tế giúp tối ưu hóa chi phí và nâng cao chất lượng điều trị. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho các cơ sở y tế tuyến huyện trong toàn quốc.

4.1. Các kết quả chính đạt được từ nghiên cứu phân tích danh mục thuốc

Nghiên cứu đạt được nhiều kết quả quan trọng: xác định chính xác 271 thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Mường Chà năm 2019, phân tích cơ cấu theo nguồn gốc sản xuất (79,34% nội địa, 20,66% nhập khẩu), theo thành phần (85,72% đơn chất, 14,28% đa thành phần) và theo loại tên gọi (100% generic). Phân tích ABC/VEN giúp nhận diện nhóm thuốc trọng tâm cần ưu tiên quản lý. So sánh với các huyện trong khu vực Tây Bắc cho thấy mức độ tương đồng và khác biệt trong chính sách sử dụng thuốc, làm cơ sở đánh giá hiệu quả công tác dược tại tuyến cơ sở.

4.2. Ứng dụng và kiến nghị nâng cao hiệu quả quản lý danh mục thuốc

Nghiên cứu có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác quản lý dược tại cơ sở y tế tuyến huyện. Kết quả phân tích ABC/VEN là cơ sở điều chỉnh danh mục thuốc, loại bỏ thuốc không cần thiết và bổ sung thuốc thiếu hụt. Các kiến nghị chính gồm: tăng cường sử dụng thuốc generic nội địa để giảm chi phí, xây dựng hệ thống theo dõi đánh giá định kỳ danh mục thuốc, đào tạo nâng cao năng lực nhân lực dược tại tuyến cơ sở. Mô hình nghiên cứu này có thể áp dụng tại các trung tâm y tế huyện khác trong khu vực Tây Bắc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Hoàng trọng linh phân tích danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế huyện mường chà tỉnh điện biên năm 2019 luận văn dược sỹ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm danh mục thuốc và xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 1. Khái niệm danh mục thuốc DMT là một danh sách các thuốc được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe và bác sĩ sẽ kê đơn các thuốc trong danh mục này. DMT của bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện [2].

Nguyên tắc xây dựng danh mục Căn cứ vào DMT thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và các quy định sử dụng thuốc do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện. HĐT& ĐTcó nhiệm vụ giúp Giám đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc bệnh viện theo nguyên tắc sau [2]: a) Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; b) Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; c) Căn cứ vào hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; d) Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; e) Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu của Bộ Y tế ban hành; f) Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; g) Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước. Các tiêu chí lựa chọn thuốc a) Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng; b) Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp đảm bảo sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định; 3 c) Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về tiêu chí thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ thuật các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng; d) Đối với thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác nhau về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn thuốc cần phân tích chi phí, hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính đơn vị của từng thuốc; đ) Ưu tiên lựa chọn thuốc đơn chất, đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có thể vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất; e) Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể; Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng; 1. Hội đồng thuốc và điều trị Việc thành lập Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện (HĐT&ĐT) là tối cần thiết, là một tổ chức đứng ra điều phối toàn bộ quá trình cung ứng thuốc tại bệnh viện.

HĐT&ĐT là một tổ chức được thành lập nhằm đánh giá tác dụng của thuốc trên lâm sàng, phát triển các chính sách quản lý, sử dụng thuốc và quản lý DMT. HĐT&ĐT ra đời nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua xác định xem loại thuốc nào cần phải cung ứng, giá cả ra sao và sử dụng như thế nào. Ngày 08/8/2013, Bộ Y tế ban hành Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị ở bệnh viện. * Nhiệm vụ của HĐT&ĐT 4 Bộ Y tế quy định bốn nhiệm vụ của HĐT&ĐT [2].

- Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt các quy định cơ bản về cung ứng và sử dụng thuốc của bệnh viện. - Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt DMT dùng cho bệnh viện. - Xây dựng và trình giám đốc phê duyệt quy trình cấp phát thuốc theo dõi sử dụng thuốc và đồng thời giúp giám đốc kiểm tra việc thực hiện quy trình trên được phê duyệt. - Giúp Giám đốc bệnh viện các hoạt động, giám sát kê đơn thuốc hợp lý, tổ chức theo dõi các phản ứng có hại và các vấn đề liên quan đến thuốc trong bệnh viện, tổ chức thông tin thuốc, tổ chức nghiên cứu khoa học và đào tạo kiến thức về thuốc và thiết lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa dược sỹ, bác sỹ và điều dưỡng.

* Vai trò của HĐT&ĐT trong chu trình quản lý thuốc Lựa chọn thuốc là hoạt động đầu tiên và quan trọng nhất trong chu trình quản lý cung ứng thuốc. Đánh giá và lựa chọn thuốc cho DMT bệnh viện là chức năng quan trọng nhất của HĐT&ĐT. Thuốc được lựa chọn phải dựa trên các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị chẩn đó được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hay cơ sở khám bệnh chữa bệnh. Một DMT được xây dựng tốt có thể giúp loại bỏ được các thuốc không an toàn và không hiệu quả do đó có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong đồng thời giúp giảm số lượng thuốc được mua sẵn dẫn đến giảm tổng số tiền chi tiêu cho thuốc, giảm số ngày nằm viện.

DMTBV sẽ cung cấp các thông tin thuốc tập trung và có trọng tâm, giúp cho chương trình tập huấn giáo dục được diễn ra thường xuyên, liên tục. Một DMT được xây dựng tốt sẽ tiết kiệm được chi phí và sử dụng hợp lý nguồn tài chính đồng thời cải thiện chất lượng chăm sóc y tế tại bệnh viện. Chính vì vậy, có thể nói rằng việc lựa chọn xây dựng danh mục thuốc là một bước then chốt và có vai trò quan trọng tiên quyết, ảnh hưởng tới hiệu quả việc cung ứng thuốc trong bệnh viện nói chung và việc sử dụng hợp lý an toàn nói riêng [2]. 5 HĐT&ĐT có chức năng tư vấn cho Giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện.

Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc 1. Phương pháp phân tích nhóm điều trị a) Khái niệm phân tích nhóm điều trị - Phân tích nhóm điều trị là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị. b) Vai trò và ý nghĩa: + Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất. + Trên cơ sở thông tin về MHBT, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không mang tính đại diện.

+ Giúp HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các liệu pháp điều trị thay thế. c) Các bước thực hiện: - Sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, % chi phí của từng thuốc sử dụng trên tổng chi phí sử dụng thuốc toàn bệnh viện. - Phân loại nhóm điều trị cho từng thuốc: phân loại này có thể dựa vào phân loại trong Danh mục thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế thế giới hoặc theo các tài liệu tham khảo khác như hệ thống phân loại Dược lý - Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ (AHFS) hoặc hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học (ATC) của Tổ chức Y tế thế giới … Trong đề tài này tôi phân tích nhóm điều trị theo Thông tư 30/2018/TT-BYT và Thông tư 05/2015/TT-BYT. - Tổng hợp chi phí, phần trăm chi phí các thuốc trong mỗi nhóm thuốc, từ đó xác định tình hình kê đơn thuốc thực tế đang tập trung vào những nhóm thuốc nào thông qua việc xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất.

6 - Đối chiếu với mô hình bệnh tật, từ đó phân tích đánh giá tính hợp lý của mối tương quan giữa các nhóm thuốc sử dụng trong điều trị và mô hình bệnh tật thực tế tại bệnh viện. Phương pháp phân tích ABC a) Khái niệm phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong chi phí dành cho mua thuốc bệnh viện [2]. b) Vai trò và ý nghĩa phân tích ABC: Phân tích ABC tạo ra cơ sở đưa ra những quyết định quan trọng trong tồn trữ, mua sắm, trong lựa chọn nhà cung ứng. - Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường, được sử dụng để: + Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn.

+ Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế. Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật. - Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện. Tóm lại, phân tích ABC có ưu điểm chính giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào.

Tuy nhiên nhược điểm của phân tích ABC: không cung cấp được đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau. Phương pháp phân tích VEN a) Khái niệm: Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn [2]. 7 Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia loại 3 nhóm cụ thể như sau: + Thuốc V (Vital drugs) - Là thuốc sống còn dùng trong trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện. + Thuốc E (Essential) - Là thuốc thiết yếu dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện.

b) Ý nghĩa của phân tích VEN: Phương pháp phân tích VEN giúp cho việc lựa chọn những thuốc cần ưu tiên để mua dự trữ trong bệnh viện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ