CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Bệnh tăng sản lành tính tuyến tiền liệt 1. Khái niệm Tuyến tiền liệt (TTL) là một tuyến sinh dục, ở độ tuổi hoạt động sinh dục tuyến nặng khoảng 20 gram. Bệnh tăng sản lành tính tuyến tiền liệt là sự tăng sản các thành phần cấu tạo TTL, chủ yếu là tổ chức xơ, cơ và tuyến khi tuổi bắt đầu cao.
Bệnh làm cho TTL to ra, thay đổi kích thước và có thể gây ra các rối loạn tiểu tiện [17], [36]. Sơ lược vị trí giải phẫu và thần kinh chi phối tuyến tiền liệt 1. Vị trí giải phẫu Ụ núi Cơ thắt Bóng niệu đạo Hình 1. Vị trí giải phẫu tuyến tiền liệt (Collins [45]) Tuyến tiền liệt nằm dưới xương mu, dưới cổ bàng quang bao quanh niệu đạo, ngay sau dưới khớp mu, trước bóng trực tràng, có thể sờ thấy khi thăm khám qua đường hậu môn [91].
Động mạch gồm 3 nguồn: bàng quang - tuyến tiền liệt (BQ-TTL), tuyến tiền liệt giữa, tuyến tiền liệt dưới vỏ bao tuyến. Hệ tĩnh mạch qua các xoang lớn, có thành mỏng tập trung ở gần vỏ bao tuyến. Tĩnh mạch trước BQ - TTL tạo nên đám rối Santorini rồi đổ vào tĩnh mạch thẹn trong và vào tĩnh mạch hạ vị [45]. 4 Động mạch bàng quang dưới ddướidưới Bàng quang Động mạch tuyến Thùy giữa tiền liệt Thùy trái ngoài Nhóm động mạch niệu đạo Nhóm động mạch vỏ bao Các nhánh mạch nhỏ từ động mạch hậu môn giữa và động mạch thẹn Hình 1.
Mạch máu cung cấp cho tuyến tiền liệt gồm 2 nhánh chính: nhánh niệu đạo và nhánh vỏ bao (nhìn mặt trước-Collins [45]) 1. Thần kinh chi phối Ở nam giới, thần kinh chi phối tuyến tiền liệt do các nhánh xuất phát từ đám rối hạ vị, đám rối cùng cụt và thần kinh giao cảm, phó giao cảm của đám rối thắt lưng T11- L2, đám rối cùng cụt S2-S4. Tương quan vị trí giải phẫu bó mạch thần kinh chi phối tuyến tiền liệt theo Kessler [91] Mạng thần kinh hỗn hợp giao cảm và phó giao cảm gồm thần kinh chậu và thần kinh cùng, chi phối trực tràng, bàng quang, tuyến tiền liệt, túi tinh, thể hang. Các dây thần kinh gồm những nhánh nhỏ, kèm mạch máu, đi sát 2 bên 5 túi tinh, tuyến tiền liệt và tận cùng tại hoành niệu - dục, cơ thắt, thể hang.
Bó mạch - thần kinh đi sát bờ ngoài và nửa dưới tuyến tiền liệt - túi tinh. Thần kinh thẹn - vận động chủ động: nhánh nội chậu và ngoại chậu (từ nhân Onuf S2-S4) chi phối cơ thắt ngoài (cơ vân). Sợi thần kinh không phải từ thần kinh thẹn (S2-3) đến cơ thắt vân. Thần kinh chậu - vận động tự động: đóng cổ bàng quang khi xuất tinh.
Sợi cảm giác (cảm giác vô ý thức và có ý thức) xuất phát từ niệu đạo màng: khi nước tiểu kích thích gây phản xạ đóng mở cổ bàng quang. Ức chế giao cảm gây giãn mạch, hạ huyết áp. Kích thích phó giao cảm gây ra mạch chậm, giảm huyết áp [45], [91]. Nguyên nhân sinh bệnh Hai nguyên nhân chính dẫn đến hình thành bệnh tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (TSLTTTL) là vai trò của androgen và tuổi cao.
- Vai trò của androgen, thực chất là dihydrotestosteron (DHT) được chuyển hóa từ testosteron qua trung gian của 5-alpha reductase. - Tuổi cao, bắt đầu từ 45 tuổi có sự mất cân bằng giữa androgen và estrogen. Estrogen tăng lên do chuyển hóa ngoại vi của testosteron, gây kích thích tăng sản mô đệm và biểu mô TTL. Hiện tượng này có thể tăng lên do quá trình viêm hoặc do các yếu tố miễn dịch.
Kết quả là số tế bào mầm tăng trưởng nhanh hơn sự thoái hủy (apoptosis) [17], [89], [116]. Chẩn đoán xác định tăng sản lành tính tuyến tiền liệt 1. Tiền sử bệnh và các triệu chứng lâm sàng Tiền sử bệnh nhân có thể liên quan đến bệnh tiết niệu như đái tháo đường, bàng quang thần kinh, hẹp niệu đạo, các phẫu thuật đã thực hiện như trĩ, thoát vị bẹn, sỏi bàng quang [17]. Triệu chứng do chèn ép: đái khó, tia nước tiểu yếu và nhỏ; rặn lâu mới đái được, đái ngắt quãng làm nhiều đợt, đái rớt nước tiểu và đái không hết.
Triệu chứng do kích thích: đái nhiều lần ban ngày và ban đêm, buồn đi tiểu nhưng không nhịn được gây cản trở sinh hoạt và giảm chất lượng cuộc sống. 6 Các triệu chứng này tăng khi TTL càng to, khi nhiễm khuẩn hoặc có rối loạn thần kinh. Giai đoạn biến chứng có thể bí đái hoàn toàn, đái rỉ, nhiễm khuẩn tiết niệu (viêm bàng quang, viêm tuyến tiền liệt, viêm mào tinh hoàn) hoặc túi thừa bàng quang, sỏi bàng quang, suy thận [17]. Tuyến tiền liệt phì đại Tuyến tiền liệt bình thường tthường Thùy giữa Xoang tuyến tiền liệt Thùy ngoài Tĩnh mạch tuyến tiền liệt “Bao phẫu thuật” Tuyến tiền liệt bị Niệu đạo tiền liệt tuyến chèn ép Hình 1.
Hình ảnh tăng sản tuyến tiền liệt theo Gravenstein [64] 1. Thang điểm quốc tế về triệu chứng tuyến tiền liệt Barry MJ [36] đề xuất thang điểm quốc tế về triệu chứng của TTL (IPSS). Thang điểm tính từ 0 đến 35 điểm dựa trên các triệu chứng: đái không hết, đái nhiều lần, đái ngắt quãng, đái vội, tia nước tiểu yếu, đái phải rặn, số lần đái ban đêm. Thang điểm về chất lượng sống tính từ 0 đến 6 điểm tùy theo tình trạng từ rất tốt đến tồi tệ [36].
Ưu điểm của chỉ số IPSS là lượng hóa được triệu chứng chủ quan của bệnh nhân giúp chẩn đoán và điều trị. Tuy vậy chỉ số IPSS có nhược điểm là khó đánh giá và phụ thuộc nhiều vào sự hiểu biết của bệnh nhân [21], [120]. Khám lâm sàng + Thăm trực tràng: tăng sản tuyến tiền liệt được phát hiện như một khối u tròn đều, nhẵn, đàn hồi, đồng nhất, không đau, còn rãnh giữa, mật độ đồng đều, không có nhân rắn, ranh giới rõ rệt [17]. 7 + Khám toàn thân về các bệnh tim mạch, phổi, thần kinh, tiêu hóa, vận động.
Khám bộ phận sinh dục ngoài, vùng hạ vị, vùng thắt lưng hai bên [17]. Các khám nghiệm cận lâm sàng + Xét nghiệm sinh hóa máu: ure, creatine máu, đường máu, điện giải máu, xét nghiệm vi khuẩn nước tiểu, kháng sinh đồ nước tiểu. + Xét nghiệm tPSA (total prostate specific antigen) + Siêu âm: đo chính xác khối lượng u, điểm giảm âm của ung thư TTL. + Chụp niệu đồ tĩnh mạch, chụp niệu đạo ngược dòng.
+ Soi bàng quang khi cần xác định u bàng quang, u niệu đạo, dị vật. + Thăm khám niệu động học: đánh giá lưu lượng dòng nước tiểu [17]. Chẩn đoán phân biệt - Ung thư tuyến tiền liệt: khám thấy nhân rắn, mất rãnh giữa và ranh giới, cần định lượng tPSA, kiểm tra siêu âm (siêu âm có vùng giảm âm, ranh giới bị phá hủy, túi tinh bị xâm lấn), sinh thiết vùng nghi vấn ở tuyến tiền liệt. - Viêm tuyến tiền liệt mạn tính: bệnh nhân có tiền sử viêm tuyến tiền liệt, viêm mào tinh hoàn, thăm trực tràng tuyến tiền liệt to, đau, có vùng rắn.
- Tuyến tiền liệt bình thường trong các trường hợp hẹp niệu đạo, xơ cứng cổ bàng quang, bàng quang thần kinh, ung thư bàng quang [17]. Nguyên tắc điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt 1. Biện pháp chờ đợi (watchful waiting): Những bệnh nhân TSLTTTL giai đoạn đầu không bị các triệu chứng gây khó chịu. Họ được giải thích rõ quá trình tiến triển của bệnh và được theo dõi, chờ đợi.
Hướng dẫn điều trị của Hội tiết niệu Châu Âu cho thấy có 36% bệnh nhân ở nhóm chờ đợi phải chuyển phẫu thuật sau 5 năm [120]. Điều trị nội khoa Điều trị bằng thuốc được áp dụng ở giai đoạn đầu chưa có biến chứng, chủ yếu là điều trị triệu chứng. Theo hướng dẫn của Hội tiết niệu Châu Âu người ta có thể sử dụng một số loại thuốc sau [120]: 8 + Thuốc đối kháng alpha 1-adrenergic (α1-blokers) tác dụng giãn cơ trơn ở cổ bàng quang và ở TTL: doxazosin, alfuzosin, prazosin, terazosin… + Thuốc tác động vào chuyển hóa androgen ngăn cản sự tăng sản TTL Loại chủ vận LHRH để giảm tiết LH; loại kháng androgen: cạnh tranh ức chế testosterone, DHT như cyproteron acetate, flutamid…loại ức chế 5α- reductase làm cho testosterone không chuyển thành DHT được: dutasteride, finasteride, tadalafil, sildenafil… + Thuốc giảm co bóp hỗn loạn cơ thành bàng quang: probantin, dotropan + Các thuốc thảo mộc bào chế từ các loại cây: vỏ cây pygeum africanum, rễ cây echinicea purpurea… [17], [120]. Điều trị ngoại khoa 1.
Phẫu thuật mở bóc u đường trên qua bàng quang - Phương pháp Hryntschak: phẫu thuật mở qua thành bàng quang bóc u TTL, khâu cầm máu kỹ. Thành bàng quang hoặc bao tuyến tiền liệt được khâu kín và nước tiểu được dẫn lưu qua ống thông niệu đạo [17]. - Phẫu thuật Millin: phẫu thuật sau xương mu, mở bao tuyến tiền liệt trực tiếp bóc u và cầm máu, đường tiết niệu được phục hồi lưu thông sớm [17]. Phẫu thuật nội soi cắt tuyến tiền liệt qua niệu đạo Nội soi cắt TTL qua niệu đạo (TURP) là phương pháp được sử dụng rộng rãi hiện nay.
Tổ chức TTL được cắt thành mảnh nhỏ và được hút ra ngoài theo đường niệu đạo, các mạch máu được đốt điện cầm máu. Quá trình nội soi cắt TTL phải cần dịch rửa liên tục giúp đẩy máu và các chất cặn ra ngoài [17]. Các phương pháp điều trị khác - Xẻ nội soi với một đường rạch từ cổ bàng quang đến ụ núi, trong trường hợp u nhỏ, ở bệnh nhân trẻ (không ảnh hưởng đến phóng tinh). - Sử dụng tia laser Nd: YAG đối với bệnh nhân già yếu.
- Nong niệu đạo TTL bằng bóng nhỏ, hay đặt dụng cụ nong niệu đạo TTL. - Dùng máy tỏa nhiệt 41-420C đặt trong trực tràng hay trong niệu đạo TTL, hoặc sóng siêu âm cao tần, hoặc nút mạch nuôi dưỡng TTL [17], [155], [157]. Phương pháp phẫu thuật nội soi cắt tuyến tiền liệt qua niệu đạo 1. Chỉ định phẫu thuật nội soi cắt TTL qua niệu đạo (TURP) Hiện nay chỉ định nội soi cắt đốt TSLTTTL chặt chẽ hơn [18], [45].
Chỉ định tuyệt đối: - Bí đái dai dẳng, khó chữa. - Nhiễm trùng đường tiểu tái diễn nhiều lần do TSLTTTL. - Đái máu đại thể tái diễn nhiều lần. - Suy thận thứ phát sau tắc nghẽn bàng quang (BQ).
- Sỏi bàng quang, túi thừa BQ rộng, BQ yếu và bị phá hủy thường xuyên… 1. Chỉ định tương đối - Các bệnh nhân tắc nghẽn BQ đã điều trị thay thế, điều trị nội khoa thất bại - Các bệnh nhân có triệu chứng rối loạn tiểu tiện do tắc nghẽn đường tiểu dưới từ trung bình đến nặng (IPSS)>8 không đáp ứng với alpha-adrenergic blockers và/hoặc 5-alpha reductase.