Luận văn Ngô Thanh Huyền: Đánh giá đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế Tuyên Quang 2019-2020

Đánh giá chi tiết quy trình đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế Tuyên Quang giai đoạn 2019-2020. Phân tích hiệu quả, hạn chế và bài học kinh nghiệm.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2020

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế Tuyên Quang

Đấu thầu thuốc tập trung là hình thức mua sắm thuốc được quy định tại Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Thông tư 09/2016/TT-BYT của Bộ Y tế. Sở Y tế Tuyên Quang chịu trách nhiệm tổ chức đấu thầu tập trung cấp địa phương nhằm đảm bảo cung ứng đủ thuốc cho các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn tỉnh. Giai đoạn 2019-2020, hoạt động đấu thầu thuốc tập trung tại Tuyên Quang được thực hiện theo Danh mục thuốc đấu thầu tập trung được phê duyệt tại Quyết định số 1269/QĐ-UBND. Nghiên cứu đánh giá kết quả thực hiện đấu thầu thuốc tập trung giúp nhận diện hiệu quả công tác mua sắm, tỷ lệ sử dụng thuốc trúng thầu và những tồn tại cần khắc phục. Địa bàn nghiên cứu bao gồm các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện và trung tâm y tế thuộc Sở Y tế Tuyên Quang quản lý. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đấu thầu thuốc tập trung tại địa phương.

1.1. Khung pháp lý về đấu thầu thuốc tập trung

Hoạt động đấu thầu thuốc tập trung được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ. Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 là nền tảng pháp lý chính. Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành về lựa chọn nhà thầu. Thông tư 09/2016/TT-BYT ban hành Danh mục thuốc đấu thầu tập trung cấp quốc gia và địa phương. Thông tư 03/2019/TT-BYT cập nhật danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu điều trị. Tại Tuyên Quang, Quyết định số 1269/QĐ-UBND phê duyệt danh mục thuốc đấu thầu tập trung bổ sung cấp địa phương, tạo cơ sở pháp lý cho triển khai thực hiện.

1.2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện tại Sở Y tế Tuyên Quang từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2020. Đối tượng bao gồm hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, kết quả đấu thầu và dữ liệu sử dụng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh thuộc tỉnh. Phương pháp nghiên cứu kết hợp thu thập dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính, thống kê sử dụng thuốc và dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn chuyên gia. Tiêu chí đánh giá bao gồm tỷ lệ số khoản mục trúng thầu, tỷ lệ giá trị thực hiện kết quả đấu thầu, cơ cấu thuốc theo đường dùng và nhóm tác dụng dược lý.

II. Phân tích kết quả và vấn đề trong đấu thầu thuốc tập trung

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ số khoản mục thuốc trúng thầu được sử dụng đạt khoảng 79% nhưng tỷ lệ giá trị thực hiện kết quả đấu thầu chỉ đạt dưới 60% ở hầu hết các đường dùng. Thuốc đường tiêm, tiêm truyền có tỷ lệ thực hiện số khoản mục cao nhất đạt 82,55% với tỷ lệ giá trị đạt 57,27%. Thuốc đường uống thực hiện được 77,21% số khoản mục. Thuốc đường đặt chỉ đạt 41,67% số khoản mục và 18,49% giá trị. Về cơ cấu thành phần, thuốc đơn thành phần đạt tỷ lệ thực hiện 79,87% số khoản mục và 56,19% giá trị. Thuốc đa thành phần đạt 74,43% số khoản mục. Một vấn đề đáng quan tâm là tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước còn thấp so với thuốc nhập khẩu. Tại các bệnh viện tuyến cuối, bác sĩ thường ưu tiên lựa chọn thuốc có nguồn gốc châu Âu do tâm lý e ngại hiệu quả thuốc nội. Tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh cũng được ghi nhận, đặc biệt nhóm cephalosporin thế hệ mới.

2.1. Tỷ lệ thực hiện kết quả đấu thầu theo đường dùng

Phân tích theo đường dùng cho thấy sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm thuốc. Đường tiêm, tiêm truyền dẫn đầu với 321 khoản mục trúng thầu, 265 khoản mục được sử dụng đạt tỷ lệ 82,55%. Đường hô hấp và đường dùng ngoài đều đạt trên 80% tỷ lệ số khoản mục. Đường uống đạt 77,21%, đường nhỏ mắt, tra mắt, nhỏ mũi đạt 69,70%. Đặc biệt, đường đặt chỉ đạt 41,67% số khoản mục. Về giá trị, tất cả các đường dùng đều không đạt mục tiêu 80%. Đường đặt có tỷ lệ giá trị thấp nhất chỉ 18,49%, cho thấy mức độ lãng phí trong mua sắm thuốc nhóm này.

2.2. Tình hình sử dụng thuốc sản xuất trong nước và thuốc kháng sinh

Tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại Tuyên Quang còn hạn chế so với thuốc nhập khẩu. Nguyên nhân chính bao gồm tâm lý bác sĩ e ngại hiệu quả thuốc nội tại bệnh viện tuyến cuối. Hoạt động marketing mạnh mẽ của công ty cung ứng thuốc nhập khẩu cũng ảnh hưởng đến lựa chọn kê đơn. Nghiên cứu tại Bệnh viện quân y 354 cho thấy 28 thuốc nhập khẩu có thể thay thế bằng thuốc sản xuất trong nước. Về thuốc kháng sinh, nhóm β-lactam đặc biệt cephalosporin thế hệ mới được sử dụng phổ biến. Tỷ lệ kháng kháng sinh tại Việt Nam đang ở mức đáng báo động, đòi hỏi kiểm soát kê đơn kháng sinh chặt chẽ hơn.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu thầu thuốc tập trung

Để nâng cao hiệu quả đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế Tuyên Quang, nhiều giải pháp cần được triển khai đồng bộ. Trước hết, cần hoàn thiện quy trình lập danh mục thuốc đấu thầu trên cơ sở đánh giá nhu cầu thực tế của các cơ sở khám chữa bệnh. Việc thu thập và phân tích dữ liệu sử dụng thuốc cần được thực hiện thường xuyên để dự báo chính xác nhu cầu. Thứ hai, tăng cường tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước bằng cơ chế khuyến khích và quy định cụ thể. Các bệnh viện cần xây dựng phác đồ điều trị ưu tiên thuốc nội có chất lượng tương đương. Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đấu thầu, theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng và giám sát sử dụng thuốc trúng thầu. Thứ tư, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ tham gia công tác đấu thầu, đặc biệt về kỹ năng đánh giá hồ sơ dự thầu và đàm phán giá. Cuối cùng, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện kết quả đấu thầu tại các đơn vị.

3.1. Hoàn thiện quy trình lập danh mục và dự báo nhu cầu

Quy trình lập danh mục thuốc đấu thầu tập trung cần dựa trên dữ liệu sử dụng thuốc thực tế tại các cơ sở khám chữa bệnh. Việc thu thập báo cáo sử dụng thuốc phải được chuẩn hóa theo mẫu thống nhất. Áp dụng phương pháp phân tích ABC-VEN để xác định nhóm thuốc ưu tiên. Dự báo nhu cầu cần tính đến yếu tố dịch bệnh, biến động giá và khả năng cung ứng thị trường. Danh mục thuốc nên được rà soát, cập nhật định kỳ hàng năm. Cần bổ sung cơ chế tiếp nhận phản hồi từ cơ sở y tế về thuốc trúng thầu không đáp ứng yêu cầu chuyên môn để điều chỉnh kịp thời.

3.2. Tăng cường sử dụng thuốc sản xuất trong nước

Nâng cao tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước là giải pháp quan trọng giảm chi phí khám chữa bệnh. Cần triển khai Thông tư 10/2016/TT-BYT về danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu điều trị. Xây dựng quy định tỷ lệ tối thiểu sử dụng thuốc nội tại các bệnh viện công lập. Tổ chức hội thảo khoa học giới thiệu thuốc sản xuất trong nước cho đội ngũ bác sĩ. Hỗ trợ doanh nghiệp dược trong nước nâng cao tiêu chuẩn GMP, WHO-GMP. Xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện thay thế thuốc nhập khẩu bằng thuốc nội có chất lượng tương đương.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá kết quả đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế Tuyên Quang giai đoạn 2019-2020 đã cung cấp bức tranh toàn diện về hiệu quả công tác mua sắm thuốc. Kết quả cho thấy tỷ lệ số khoản mục thuốc trúng thầu được sử dụng đạt mức khá nhưng tỷ lệ giá trị thực hiện còn thấp, chưa đạt mục tiêu đề ra. Sự chênh lệch giữa các đường dùng thuốc và nhóm thành phần phản ánh tính chưa sát thực tế của danh mục đấu thầu. Tình trạng sử dụng thuốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao, thuốc kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ mới được sử dụng phổ biến đặt ra thách thức về kiểm soát chi phí và kháng kháng sinh. Các giải pháp đề xuất tập trung vào hoàn thiện quy trình lập danh mục, tăng cường sử dụng thuốc nội, ứng dụng công nghệ thông tin và đào tạo cán bộ. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, làm cơ sở cho Sở Y tế Tuyên Quang cải thiện công tác đấu thầu thuốc tập trung trong những năm tiếp theo.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đóng góp vào kho tài liệu về quản lý dược tại Việt Nam, đặc biệt lĩnh vực đấu thầu thuốc tập trung cấp địa phương. Kết quả cung cấp bằng chứng khoa học về thực trạng sử dụng thuốc trúng thầu tại tỉnh miền núi phía Bắc. Phương pháp đánh giá có thể áp dụng cho các tỉnh có điều kiện kinh tế xã hội tương tự. Về thực tiễn, nghiên cứu giúp Sở Y tế Tuyên Quang nhận diện điểm mạnh, điểm yếu trong công tác đấu thầu. Các kiến nghị cụ thể có thể triển khai ngay để cải thiện hiệu quả sử dụng ngân sách mua sắm thuốc. Nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng chính sách dược địa phương.

4.2. Hạn chế của nghiên cứu và hướng phát triển

Nghiên cứu có một số hạn chế cần được lưu ý. Dữ liệu thu thập giới hạn trong giai đoạn 2019-2020, chưa phản ánh tác động của đại dịch COVID-19 đến hoạt động đấu thầu. Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào Sở Y tế Tuyên Quang nên tính đại diện có giới hạn. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên dữ liệu thứ cấp, chưa đánh giá đầy đủ yếu tố chất lượng thuốc trúng thầu. Hướng phát triển bao gồm mở rộng nghiên cứu đa trung tâm, áp dụng phương pháp định tính phỏng vấn sâu, đánh giá tác động của chuyển đổi thuốc nội lên chi phí điều trị và theo dõi kháng kháng sinh trong dài hạn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Ngô thanh huyền đánh giá việc thực hiện kết quả đấu thầu thuốc tập trung tại sở y tế tuyên quang năm 2019 2020 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Đấu thầu thuốc tập trung và danh mục thuốc trúng thầu 1. Trình tự thực hiện tổ chức đấu thầu mua thuốc tập trung Mua thuốc tập trung thực hiện theo hình thức đấu thầu rộng rãi trong nước, phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ, thường sử dụng phương pháp đánh giá điểm tổng hợp (kết hợp giữa kỹ thuật và giá), xét theo từng phần (mặt hàng) [13]. Quy trình mua thuốc tập trung theo quy định của Thông tư 11/2016/TT- BYT [3] và Nghị định 63/2014/NĐ-CP [13] được mô tả theo các bước sau: a) Tổng hợp nhu cầu của các cơ sở y tế; b) Lập Kế hoạch LCNT; c) Thẩm định KHLCNT; d) Phê duyệt KHLCNT; e) Lập HSMT; f) Thẩm định và phê duyệt HSMT; g) Mời thầu; h) Phát hành, sửa đổi, làm rõ HSMT; i) Chuẩn bị, nộp, tiếp nhận, quản lý, sửa đổi, rút HSDT; j) Mở hồ sơ đề xuất về kỹ thuật.

k) Đánh giá HSĐXKT l) Mở và đánh giá hồ sơ đề xuất về tài chính m) Thương thảo hợp đồng. n) Trình, thẩm định, phê duyệt và công khai kết quả lựa chọn nhà thầu. o) Ký thỏa thuận khung; Hoàn thiện, ký kết hợp đồng. Các cơ sở khám, chữa bệnh căn cứ Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu mua thuốc của Sở Y tế và Thỏa thuận khung được ký kết giữa 1 Sở Y tế và nhà thầu trúng thầu, tiến hành ký kết hợp đồng mua thuốc với các nhà thầu trúng thầu theo danh mục thuốc trúng thầu được phân khai trên cơ sở danh mục thuốc nhu cầu ban đầu của các cơ sở khám, chữa bệnh trình Sở Y tế đấu thầu tập trung cấp địa phương.

Các quy định về sử dụng thuốc trúng thầu Các văn bản Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 [17] và Nghị định 63/2014/ NĐ-CP [13] đã nêu trên là căn cứ để Sở Y tế thực hiện việc đấu thầu mua thuốc đúng quy định. Bộ Y tế ban hành Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế [4], các thuốc hay hoạt chất được sắp xếp theo 27 nhóm lớn, theo mã ATC. Quy định về việc xây dựng DMT thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải căn cứ DMT và phân hạng bệnh viện; nhu cầu điều trị và khả năng chi trả của quỹ BHYT, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xây dựng DMT sử dụng theo quy định của pháp luật về đấu thầu và việc lựa chọn thuốc để mua sắm, sử dụng theo nguyên tắc: ưu tiên lựa chọn thuốc Generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước. - Về quy định sử dụng 80-120% số lượng của các thuốc trúng thầu: Việc thực hiện hợp đồng sau khi có kết quả đấu thầu mua thuốc, tại Điều 28 Thông tư 11/2016/TT-BYT [3] có quy định: Cơ sở y tế không được mua vượt số lượng thuốc của một nhóm thuốc trong kết quả lựa chọn nhà thầu nếu chưa mua hết số lượng thuốc trong các nhóm thuốc khác của cùng hoạt chất đã trúng thầu theo các hợp đồng đã ký.

Các trường hợp sau đây được phép mua vượt nhưng số lượng không được vượt quá 20% so với số lượng của nhóm thuốc đó trong hợp đồng đã ký và không phải trình duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu bổ sung: 2 - Đã sử dụng hết số lượng thuốc của các nhóm khác và chỉ còn số lượng thuốc trong gói thầu thuốc biệt dược gốc hoặc tương đương Điều trị; - Các nhóm thuốc khác của cùng hoạt chất đã trúng thầu nhưng buộc phải dừng cung ứng, hết hạn số đăng ký (nhưng chưa được cấp lại) hoặc thuốc bị đình chỉ lưu hành, thuốc bị rút ra khỏi danh Mục thuốc có chứng minh tương đương sinh học sau khi đã trúng thầu; - Nhà thầu chưa cung cấp hết số lượng thuốc của một nhóm thuốc trong hợp đồng đã ký nhưng không có khả năng cung cấp tiếp vì các lý do bất khả kháng, trong trường hợp này phải có thông báo bằng văn bản kèm theo tài liệu chứng minh. Tại Điều 31, Thông tư 11/2016/TT-BYT [3] quy định về trách nhiệm các bên liên quan và hiệu lực thỏa thuận khung: - Cơ sở y tế có nhu cầu mua thuốc thuộc Danh Mục thuốc đấu thầu tập trung, Danh Mục thuốc đàm phán giá phải căn cứ vào kết quả lựa chọn nhà thầu, kết quả đàm phán giá và nội dung thỏa thuận khung để hoàn thiện và ký kết hợp đồng với nhà thầu đã được lựa chọn thông qua mua sắm tập trung, đàm phán giá theo nguyên tắc đơn giá ký kết hợp đồng không được vượt giá trong thỏa thuận khung đã được công bố. - Đơn vị đầu mối quy định tại Khoản 1 Điều 32 Thông tư này có trách nhiệm tổng hợp, thẩm định nhu cầu về danh mục và số lượng thuốc của từng cơ sở y tế thuộc phạm vi quản lý và điều tiết việc thực hiện kế hoạch để bảo đảm sử dụng tối thiểu 80% số lượng thuốc đã báo cáo về Đơn vị mua thuốc tập trung (trừ thuốc cấp cứu, thuốc chống độc và thuốc hiếm). Quy định chung đối với đấu thầu tập trung (cấp quốc gia và cấp địa phương): Đơn vị đầu mối đầu thầu phải có trách nhiệm tổng hợp, thẩm định nhu cầu về danh mục và số lượng thuốc của từng cơ sở y tế thuộc phạm vi quản lý) và điều tiết việc thực hiện kế hoạch để đảm bảo thực hiện tối thiểu 80% số lượng thuốc đã báo cáo về Đơn vị mua thuốc tập trung (trừ thuốc cấp 3 cứu, thuốc chống độc và thuốc hiếm).

Trường hợp nhu cầu sử dụng thuốc của cơ sở y tế vượt 20% số lượng thuốc được phân bổ trong thỏa thuận khung thì phải báo cáo đơn vị mua thuốc tập trung để tổng hợp và điều tiết số lượng thuốc giữa các cơ sở y tế thuộc phạm vi cung cấp tại địa phương. Trường hợp nhu cầu sử dụng thuốc của địa phương, của các cơ sở y tế của trung ương (trừ các cơ sở y tế tham gia đấu thầu thuốc tập trung với địa phương) vượt 20% số lượng thuốc được phân bổ trong thỏa thuận khung thì phải báo cáo đơn vị mua thuốc đơn vị mua thuốc tập trung cấp quốc gia để tổng hợp và Điều tiết số lượng thuốc giữa các địa phương, các cơ sở y tế của trung ương nhưng bảo đảm không vượt quá 20% số lượng trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu tập trung cấp quốc gia hoặc kế hoạch đàm phán giá đã được phê duyệt. Hiện nay, tất cả các cơ sở y tế đều đang áp dụng định mức phải thực hiện tối thiểu 80% số lượng thuốc trúng thầu. Tuy nhiên căn cứ vào nội dung quy định trên của Thông tư 11/2016/TT-BYT thì việc quy định bắt buộc phải thực hiện tối thiểu 80% thuốc trúng thầu đối với đấu thầu tập trung thuốc cấp quốc gia là rất rõ ràng, nhưng đối với đấu thầu tập trung cấp địa phương và đấu thầu tại các cơ sở y tế thì chưa thật sự cụ thể [20].

- Về tăng cường sử dụng thuốc sản xuất trong nước: Thông tư số 10/2016 và Thông tư số 03/2019 thay thế Thông tư số 10/2016 là căn cứ quan trọng đánh giá tính hợp lý trong sử dụng thuốc của các bệnh viện trong vấn đề ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước. Đồng thời, Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” được Bộ Y tế phê duyệt năm 2012 với mục tiêu nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ y tế trong việc sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam qua đó góp phần tăng tỷ lệ sử dụng sản xuất tại Việt Nam có chất lượng tại các cơ sở y tế và trong cộng đồng, đồng thời thúc đẩy ngành sản xuất, kinh doanh dược Việt Nam phát triển, tăng cả về số lượng, chất lượng, đáp ứng cơ bản nhu cầu thuốc 4 phòng bệnh, chữa bệnh trong nước, tiến tới xuất khẩu ra các nước trong khu vực và trên thế giới [18]. Việc ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước vừa giúp giảm chi phí điều trị đồng thời thúc đẩy phát triển ngành dược. - Về quy định sử dụng thuốc đơn thành phần/đa thành phần: Thông tư 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 8/8/2013 [5], Quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện có quy định: Một trong những tiêu chuẩn để lựa chọn thuốc xây dựng DMT BV đó là: ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất.

Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất. Việc sử dụng thuốc trúng thầu của các cơ sở khám, chữa bệnh hiện nay tại Việt Nam Hiện nay việc mua thuốc sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập và thuốc do ngân sách nhà nước chi trả phải thực hiện đấu thầu theo quy định của pháp luật. Khi Luật đấu thầu số 43 và Nghị định 63 triển khai thực hiện, hàng loạt các văn bản hướng dẫn đấu thầu thuốc phải được sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới, mở ra một chương mới cho đấu thầu thuốc tiến tới đạt được mục tiêu “mua thuốc chất lượng, giá cả hợp lý”. Tính đến năm 2019, tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước đã áp dụng đấu thầu tập trung cấp địa phương.

Đấu thấu tập trung cấp địa phương đã góp phần hạn chế được sự chênh lệch giá thuốc giữa các cơ sở y tế trên địa bàn, đưa ra giá thuốc thống nhất trên toàn tỉnh, giúp cho việc quản lý giá thuốc được thuận lợi hơn. Kết quả đấu thầu tập trung đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu sử dụng thuốc tại các đơn vị y tế trên toàn tỉnh. Những điểm mới của Thông tư 11/2016/TT-BYT [3] áp dụng vào đấu thầu tập trung cấp địa phương đã góp phần tạo điều kiện phát triển cho ngành dược trong nước phát triển. Các doanh nghiệp đã chủ động được nguồn cung, 5 cầu; đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng thuốc để tăng sức cạnh tranh trong đấu thầu.

Vì vậy, thuốc trong nước ngày càng được chú trọng. Ngoài ra, đấu thầu tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu tham dự như tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí dự thầu, đi lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ