Luận văn Ngô Thanh Huyền: Đánh giá đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế Tuyên Quang 2019-2020

Đánh giá chi tiết quy trình đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế Tuyên Quang giai đoạn 2019-2020. Phân tích hiệu quả, hạn chế và bài học kinh nghiệm.

2020

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế Tuyên Quang

Đấu thầu thuốc tập trung là hình thức mua sắm thuốc được quy định tại Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Thông tư 09/2016/TT-BYT của Bộ Y tế. Sở Y tế Tuyên Quang chịu trách nhiệm tổ chức đấu thầu tập trung cấp địa phương nhằm đảm bảo cung ứng đủ thuốc cho các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn tỉnh. Giai đoạn 2019-2020, hoạt động đấu thầu thuốc tập trung tại Tuyên Quang được thực hiện theo Danh mục thuốc đấu thầu tập trung được phê duyệt tại Quyết định số 1269/QĐ-UBND. Nghiên cứu đánh giá kết quả thực hiện đấu thầu thuốc tập trung giúp nhận diện hiệu quả công tác mua sắm, tỷ lệ sử dụng thuốc trúng thầu và những tồn tại cần khắc phục. Địa bàn nghiên cứu bao gồm các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện và trung tâm y tế thuộc Sở Y tế Tuyên Quang quản lý. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đấu thầu thuốc tập trung tại địa phương.

1.1. Khung pháp lý về đấu thầu thuốc tập trung

Hoạt động đấu thầu thuốc tập trung được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ. Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 là nền tảng pháp lý chính. Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành về lựa chọn nhà thầu. Thông tư 09/2016/TT-BYT ban hành Danh mục thuốc đấu thầu tập trung cấp quốc gia và địa phương. Thông tư 03/2019/TT-BYT cập nhật danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu điều trị. Tại Tuyên Quang, Quyết định số 1269/QĐ-UBND phê duyệt danh mục thuốc đấu thầu tập trung bổ sung cấp địa phương, tạo cơ sở pháp lý cho triển khai thực hiện.

1.2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện tại Sở Y tế Tuyên Quang từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2020. Đối tượng bao gồm hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, kết quả đấu thầu và dữ liệu sử dụng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh thuộc tỉnh. Phương pháp nghiên cứu kết hợp thu thập dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính, thống kê sử dụng thuốc và dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn chuyên gia. Tiêu chí đánh giá bao gồm tỷ lệ số khoản mục trúng thầu, tỷ lệ giá trị thực hiện kết quả đấu thầu, cơ cấu thuốc theo đường dùng và nhóm tác dụng dược lý.

II. Phân tích kết quả và vấn đề trong đấu thầu thuốc tập trung

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ số khoản mục thuốc trúng thầu được sử dụng đạt khoảng 79% nhưng tỷ lệ giá trị thực hiện kết quả đấu thầu chỉ đạt dưới 60% ở hầu hết các đường dùng. Thuốc đường tiêm, tiêm truyền có tỷ lệ thực hiện số khoản mục cao nhất đạt 82,55% với tỷ lệ giá trị đạt 57,27%. Thuốc đường uống thực hiện được 77,21% số khoản mục. Thuốc đường đặt chỉ đạt 41,67% số khoản mục và 18,49% giá trị. Về cơ cấu thành phần, thuốc đơn thành phần đạt tỷ lệ thực hiện 79,87% số khoản mục và 56,19% giá trị. Thuốc đa thành phần đạt 74,43% số khoản mục. Một vấn đề đáng quan tâm là tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước còn thấp so với thuốc nhập khẩu. Tại các bệnh viện tuyến cuối, bác sĩ thường ưu tiên lựa chọn thuốc có nguồn gốc châu Âu do tâm lý e ngại hiệu quả thuốc nội. Tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh cũng được ghi nhận, đặc biệt nhóm cephalosporin thế hệ mới.

2.1. Tỷ lệ thực hiện kết quả đấu thầu theo đường dùng

Phân tích theo đường dùng cho thấy sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm thuốc. Đường tiêm, tiêm truyền dẫn đầu với 321 khoản mục trúng thầu, 265 khoản mục được sử dụng đạt tỷ lệ 82,55%. Đường hô hấp và đường dùng ngoài đều đạt trên 80% tỷ lệ số khoản mục. Đường uống đạt 77,21%, đường nhỏ mắt, tra mắt, nhỏ mũi đạt 69,70%. Đặc biệt, đường đặt chỉ đạt 41,67% số khoản mục. Về giá trị, tất cả các đường dùng đều không đạt mục tiêu 80%. Đường đặt có tỷ lệ giá trị thấp nhất chỉ 18,49%, cho thấy mức độ lãng phí trong mua sắm thuốc nhóm này.

2.2. Tình hình sử dụng thuốc sản xuất trong nước và thuốc kháng sinh

Tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại Tuyên Quang còn hạn chế so với thuốc nhập khẩu. Nguyên nhân chính bao gồm tâm lý bác sĩ e ngại hiệu quả thuốc nội tại bệnh viện tuyến cuối. Hoạt động marketing mạnh mẽ của công ty cung ứng thuốc nhập khẩu cũng ảnh hưởng đến lựa chọn kê đơn. Nghiên cứu tại Bệnh viện quân y 354 cho thấy 28 thuốc nhập khẩu có thể thay thế bằng thuốc sản xuất trong nước. Về thuốc kháng sinh, nhóm β-lactam đặc biệt cephalosporin thế hệ mới được sử dụng phổ biến. Tỷ lệ kháng kháng sinh tại Việt Nam đang ở mức đáng báo động, đòi hỏi kiểm soát kê đơn kháng sinh chặt chẽ hơn.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu thầu thuốc tập trung

Để nâng cao hiệu quả đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế Tuyên Quang, nhiều giải pháp cần được triển khai đồng bộ. Trước hết, cần hoàn thiện quy trình lập danh mục thuốc đấu thầu trên cơ sở đánh giá nhu cầu thực tế của các cơ sở khám chữa bệnh. Việc thu thập và phân tích dữ liệu sử dụng thuốc cần được thực hiện thường xuyên để dự báo chính xác nhu cầu. Thứ hai, tăng cường tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước bằng cơ chế khuyến khích và quy định cụ thể. Các bệnh viện cần xây dựng phác đồ điều trị ưu tiên thuốc nội có chất lượng tương đương. Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đấu thầu, theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng và giám sát sử dụng thuốc trúng thầu. Thứ tư, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ tham gia công tác đấu thầu, đặc biệt về kỹ năng đánh giá hồ sơ dự thầu và đàm phán giá. Cuối cùng, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện kết quả đấu thầu tại các đơn vị.

3.1. Hoàn thiện quy trình lập danh mục và dự báo nhu cầu

Quy trình lập danh mục thuốc đấu thầu tập trung cần dựa trên dữ liệu sử dụng thuốc thực tế tại các cơ sở khám chữa bệnh. Việc thu thập báo cáo sử dụng thuốc phải được chuẩn hóa theo mẫu thống nhất. Áp dụng phương pháp phân tích ABC-VEN để xác định nhóm thuốc ưu tiên. Dự báo nhu cầu cần tính đến yếu tố dịch bệnh, biến động giá và khả năng cung ứng thị trường. Danh mục thuốc nên được rà soát, cập nhật định kỳ hàng năm. Cần bổ sung cơ chế tiếp nhận phản hồi từ cơ sở y tế về thuốc trúng thầu không đáp ứng yêu cầu chuyên môn để điều chỉnh kịp thời.

3.2. Tăng cường sử dụng thuốc sản xuất trong nước

Nâng cao tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước là giải pháp quan trọng giảm chi phí khám chữa bệnh. Cần triển khai Thông tư 10/2016/TT-BYT về danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu điều trị. Xây dựng quy định tỷ lệ tối thiểu sử dụng thuốc nội tại các bệnh viện công lập. Tổ chức hội thảo khoa học giới thiệu thuốc sản xuất trong nước cho đội ngũ bác sĩ. Hỗ trợ doanh nghiệp dược trong nước nâng cao tiêu chuẩn GMP, WHO-GMP. Xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện thay thế thuốc nhập khẩu bằng thuốc nội có chất lượng tương đương.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá kết quả đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế Tuyên Quang giai đoạn 2019-2020 đã cung cấp bức tranh toàn diện về hiệu quả công tác mua sắm thuốc. Kết quả cho thấy tỷ lệ số khoản mục thuốc trúng thầu được sử dụng đạt mức khá nhưng tỷ lệ giá trị thực hiện còn thấp, chưa đạt mục tiêu đề ra. Sự chênh lệch giữa các đường dùng thuốc và nhóm thành phần phản ánh tính chưa sát thực tế của danh mục đấu thầu. Tình trạng sử dụng thuốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao, thuốc kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ mới được sử dụng phổ biến đặt ra thách thức về kiểm soát chi phí và kháng kháng sinh. Các giải pháp đề xuất tập trung vào hoàn thiện quy trình lập danh mục, tăng cường sử dụng thuốc nội, ứng dụng công nghệ thông tin và đào tạo cán bộ. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, làm cơ sở cho Sở Y tế Tuyên Quang cải thiện công tác đấu thầu thuốc tập trung trong những năm tiếp theo.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đóng góp vào kho tài liệu về quản lý dược tại Việt Nam, đặc biệt lĩnh vực đấu thầu thuốc tập trung cấp địa phương. Kết quả cung cấp bằng chứng khoa học về thực trạng sử dụng thuốc trúng thầu tại tỉnh miền núi phía Bắc. Phương pháp đánh giá có thể áp dụng cho các tỉnh có điều kiện kinh tế xã hội tương tự. Về thực tiễn, nghiên cứu giúp Sở Y tế Tuyên Quang nhận diện điểm mạnh, điểm yếu trong công tác đấu thầu. Các kiến nghị cụ thể có thể triển khai ngay để cải thiện hiệu quả sử dụng ngân sách mua sắm thuốc. Nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng chính sách dược địa phương.

4.2. Hạn chế của nghiên cứu và hướng phát triển

Nghiên cứu có một số hạn chế cần được lưu ý. Dữ liệu thu thập giới hạn trong giai đoạn 2019-2020, chưa phản ánh tác động của đại dịch COVID-19 đến hoạt động đấu thầu. Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào Sở Y tế Tuyên Quang nên tính đại diện có giới hạn. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên dữ liệu thứ cấp, chưa đánh giá đầy đủ yếu tố chất lượng thuốc trúng thầu. Hướng phát triển bao gồm mở rộng nghiên cứu đa trung tâm, áp dụng phương pháp định tính phỏng vấn sâu, đánh giá tác động của chuyển đổi thuốc nội lên chi phí điều trị và theo dõi kháng kháng sinh trong dài hạn.

28/05/2026
Ngô thanh huyền đánh giá việc thực hiện kết quả đấu thầu thuốc tập trung tại sở y tế tuyên quang năm 2019 2020 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i