Tổng quan luận án
Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến hàng đầu trên thế giới và tại Việt Nam. Theo thống kê của GLOBOCAN 2012, trên quy mô toàn cầu ước tính mỗi năm có 1.360.000 ca mắc mới và 694.000 ca tử vong do UTĐTT; trong đó ung thư trực tràng (UTTT) chiếm trên 50% tổng số ca bệnh. Tại Việt Nam, UTĐTT đứng hàng thứ năm ở cả hai giới với 8.768 ca mắc mới và 5.976 ca tử vong trong năm 2012, với xu hướng gia tăng liên tục. Điều trị UTTT là điều trị đa mô thức, trong đó can thiệp ngoại khoa giữ vai trò nền tảng.
Trước đây, đối với UTTT đoạn giữa và thấp, phẫu thuật cắt cụt trực tràng đường bụng - tầng sinh môn (phẫu thuật Miles) hy sinh hệ thống cơ thắt là phương pháp kinh điển, nhưng để lại di chứng nặng nề khi người bệnh phải mang hậu môn nhân tạo vĩnh viễn suốt đời. Xu hướng ngoại khoa hiện đại chuyển dịch sang bảo tồn cơ thắt bằng phẫu thuật cắt trước thấp và rất thấp kết hợp kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (Total Mesorectal Excision - TME) để nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân. Tuy nhiên, việc thực hiện miệng nối trong không gian tiểu khung hẹp tiềm ẩn nguy cơ rò miệng nối và hẹp miệng nối. Đồng thời, kỹ thuật nối thẳng tận - tận kinh điển thường dẫn đến "hội chứng cắt trước" với các rối loạn chức năng đại tiện nghiêm trọng (tần suất đại tiện tăng, són phân, mót rặn).
Các giải pháp tạo hình bóng trực tràng như tạo túi J đại tràng (Colonic J-pouch), tạo hình đại tràng theo chiều rộng (Coloplasty) và nối bên - tận đã được áp dụng trên thế giới. Trong đó, kỹ thuật nối bên - tận có túi chữ J cải biên với đoạn đại tràng quặt ngược tự do dài 6 cm được đánh giá là giải pháp đơn giản, giảm độ căng miệng nối và phục hồi dung tích chứa, nhưng tại Việt Nam chưa có nghiên cứu đánh giá toàn diện. Do đó, luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Lê Quốc Tuấn thực hiện đề tài "Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt đoạn và nối máy trong điều trị ung thư trực tràng giữa và thấp" tại Trường Đại học Y Hà Nội (năm 2020) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Hiếu.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm 2 mục tiêu cụ thể:
- Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư trực tràng đoạn giữa và thấp được phẫu thuật cắt nối máy.
- Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt đoạn và nối máy bên tận có túi chữ J cải biên của nhóm bệnh nhân trên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư trực tràng đoạn giữa (cách rìa hậu môn 7–10 cm) và đoạn thấp (cách rìa hậu môn 3–6 cm), được chỉ định và thực hiện phẫu thuật cắt đoạn trực tràng triệt căn bảo tồn cơ thắt và lập lại lưu thông tiêu hóa bằng kỹ thuật nối máy bên - tận có túi chữ J cải biên.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai tại cơ sở ngoại khoa chuyên khoa ung bướu trực thuộc Trường Đại học Y Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Luận án hoàn thành và bảo vệ vào năm 2020, theo dõi đánh giá các biến số trong mổ, diễn biến hậu phẫu tháng đầu, phục hồi cơ năng sau 3, 6, 12, 18, 24 tháng và tỷ lệ sống thêm không bệnh, sống thêm toàn bộ sau 1 đến 5 năm.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan luận án đã hệ thống hóa các mốc phát triển giải phẫu học, sinh học phân tử, phương pháp chẩn đoán và kỹ thuật ngoại khoa UTTT qua các công trình tiêu biểu:
- Lịch sử ngoại khoa và kỹ thuật TME: Sir William Ernest Miles (1908) đặt nền móng cho phẫu thuật triệt căn UTTT thấp bằng phẫu thuật cắt cụt trực tràng đường bụng - tầng sinh môn (APR). Đến năm 1982, phẫu thuật viên người Anh Bill Heald đưa ra khái niệm cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME), xác lập nguyên tắc phẫu tích dọc theo lớp mạc tạng (fascia recti) bảo tồn đám rối thần kinh tự chủ tiểu khung, yêu cầu cắt mạc treo trực tràng dưới bờ u tối thiểu 5 cm và diện cắt thành trực tràng dưới u tối thiểu 2 cm. Kỹ thuật TME đã giúp hạ tỷ lệ tái phát tại chỗ từ 15–30% xuống dưới 4–10%.
- Giải phẫu ứng dụng: Dựa trên các mô tả của Frank Netter (2004) và Calan (2004), trực tràng dài khoảng 15 cm, chia thành 3 đoạn: 1/3 trên (11–15 cm cách rìa hậu môn, nằm trên túi cùng Douglas), 1/3 giữa (7–10 cm), 1/3 dưới (3–6 cm). Khoảng cách từ túi cùng Douglas đến rìa hậu môn trung bình 7,5 cm ở nam và 5,5 cm ở nữ. Cấu trúc giữ phân tự chủ gồm cơ thắt trong (sợi cơ trơn không tự chủ), cơ thắt ngoài (sợi cơ vân tự chủ) và bó cơ mu - trực tràng.
- Các phẫu thuật bảo tồn cơ thắt kinh điển: Phẫu thuật Babcock - Bacon (kéo tuột đại tràng nối với cơ thắt), phẫu thuật Parks (1972) và hoàn thiện bởi Malafosse (cắt trực tràng qua đường bụng - hậu môn, bóc tách niêm mạc ống hậu môn), phẫu thuật Schiessel (cắt bán phần hoặc toàn bộ cơ thắt trong, bảo tồn cơ thắt ngoài khi rìa u cách bình diện cơ nâng hậu môn 1–2 cm).
- Chẩn đoán hình ảnh và phân loại giai đoạn: Y. Mason phân loại 4 mức độ xâm lấn của u qua thăm trực tràng bằng ngón tay; Starck và cs công bố độ chính xác của thăm trực tràng đạt 68% (dao động 57,9–82,8%). Brown và cộng sự (2003) xây dựng tiêu chuẩn phân loại mức độ xâm lấn T1–T4 trên chụp cộng hưởng từ (MRI) tiểu khung và xác định tiêu chuẩn hạch di căn dựa trên đường bờ không đều và tín hiệu không đồng nhất (độ nhạy 85%, độ đặc hiệu 97%). Andreola và cs ghi nhận trong UTTT, nhiều hạch di căn trên mô bệnh học có kích thước dưới 5 mm. Các công trình của Buijsen, Kanamoto, Kim phân tích vai trò của CT đa dãy và PET-CT trong đánh giá xâm lấn, hạch vùng và di căn xa.
- Sinh học phân tử ung thư đại trực tràng: Tỷ lệ đột biến gen KRAS chiếm 35–45% liên quan đến kháng kháng thể đơn dòng ức chế EGFR; đột biến BRAF V600E tiên lượng xấu; Gal R. và cs (2004) chứng minh mất đoạn gen DCC (18q deletion) là yếu tố tiên lượng xấu; tính trạng bất ổn định vi vệ tinh (MSI/dMMR) và sự bộc lộ phối tử PD-L1/PD-L2 dự báo đáp ứng điều trị miễn dịch và hóa trị bổ trợ 5-FU.
- Nghiên cứu tạo hình bóng trực tràng và miệng nối máy: Thống kê y văn ghi nhận 25–80% bệnh nhân sau cắt trước thấp nối thẳng tận - tận gặp hội chứng cắt trước. Phân tích gộp của Heriot và cs (2006) trên 35 thử nghiệm lâm sàng (2.240 bệnh nhân), tổng quan của Koh và cs (2007) trên 10 RCT và tổng quan hệ thống Cochrane của Brown và cs (2008) trên 16 RCT khẳng định túi J đại tràng vượt trội hơn nối thẳng tận - tận về kiểm soát phân và giảm tần suất đại tiện trong 18–24 tháng đầu. Thử nghiệm của Fazio và cs trên 354 bệnh nhân chứng minh túi J có điểm bất tự chủ FISI tốt hơn tạo hình đại tràng theo chiều rộng (CP). Nghiên cứu của Huber (1999), Machado (2003, 2005), Jiang (2005) chỉ ra miệng nối bên - tận cho kết quả cơ năng tương đương túi J nhưng kỹ thuật đơn giản hơn. Về biến chứng rò miệng nối, Mc Namara D. ghi nhận tỷ lệ rò ở nhóm nối thẳng tận - tận là 15% so với 2% ở nhóm túi J; Brisinda báo cáo tỷ lệ rò ở nhóm tận - tận là 29,2% so với 5% ở nhóm bên - tận.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là đánh giá toàn diện đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính an toàn ngoại khoa (tỷ lệ rò, hẹp, biến chứng) và hiệu quả phục hồi chức năng đại tiện lâu dài của kỹ thuật cắt đoạn trực tràng kết hợp nối máy bên - tận có túi chữ J cải biên (chiều dài quặt ngược 6 cm) ở bệnh nhân UTTT đoạn giữa và thấp tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Nguyên tắc ung thư học: Áp dụng nguyên tắc phẫu thuật triệt căn TME của Heald (1982), giải phóng toàn bộ trực tràng và mạc treo trực tràng nguyên khối trong bao cân tạng, thắt mạch mạc treo tràng dưới, vét hạch mạc treo tối thiểu ≥ 12 hạch theo khuyến cáo quốc tế.
- Hệ thống phân loại giai đoạn: Phân loại TNM của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (AJCC 2010 - phiên bản 7 và cập nhật phiên bản 8 năm 2017 với phân nhóm M1c/giai đoạn IVC), đối chiếu phân loại kinh điển của Cuthbert Dukes (1932) gồm 4 giai đoạn A, B, C, D.
- Tiêu chuẩn mô bệnh học: Phân loại mô bệnh học theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2010), chia độ biệt hóa thành G1 (biệt hóa cao), G2 (biệt hóa vừa), G3 (kém biệt hóa), G4 (không biệt hóa). Phân loại đại thể gồm thể sùi, thể loét và thể thâm nhiễm lan tỏa.
- Tiêu chuẩn đánh giá hình ảnh học: Phân loại giai đoạn xâm lấn u T1–T4 trên MRI tiểu khung theo hệ thống của Brown và cs (2003).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng mô tả tiến cứu kết hợp theo dõi dọc không can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng, đánh giá kết quả sớm (trong mổ, hậu phẫu 30 ngày) và kết quả xa (3 đến 24 tháng đối với cơ năng, 1 đến 5 năm đối với ung thư học).
- Phương tiện và thiết bị phẫu thuật: Sử dụng kỹ thuật dập ghim kép (Double Stapler Technique - DST) với:
- Máy cắt thẳng tuyến tính (Linear Cutter 60, 75, 90 mm) để cắt đại tràng trên u.
- Máy cắt trực tràng cong (Contour) dập hai hàng ghim kép và cắt cách bờ dưới u tối thiểu 2 cm trong tiểu khung hẹp.
- Máy dập ghim hình tròn cong (CDH Ethicon đường kính 28, 29, 30, 31 mm) để tạo miệng nối bên - tận giữa đại tràng hạ xuống và mỏm cụt trực tràng/ống hậu môn, tạo túi J cải biên với đầu quặt ngược dài 6 cm.
+-----------------------------------------------------------------------------+
| QUY TRÌNH THU THẬP VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC BIẾN SỐ |
+-----------------------------------------------------------------------------+
| 1. Trước mổ: |
| - Lâm sàng (lý do vào viện, đại tiện máu, thay đổi khuôn phân, sút cân). |
| - Thăm trực tràng (độ di động theo Y. Mason, khoảng cách tới RHM). |
| - Cận lâm sàng: Nội soi sinh thiết, CEA huyết thanh, MRI tiểu khung, CT. |
+-----------------------------------------------------------------------------+
| 2. Trong mổ: |
| - Kỹ thuật TME, tỷ lệ hạ góc lách, loại máy cắt nối sử dụng. |
| - Thời gian phẫu thuật, lượng máu mất, số hạch nạo vét được. |
| - Tỷ lệ làm hậu môn nhân tạo trên dòng bảo vệ. |
+-----------------------------------------------------------------------------+
| 3. Sau mổ và Theo dõi: |
| - Diễn biến hậu phẫu: Trung tiện, rút thông tiểu, biến chứng (rò, chảy |
| máu, tắc ruột, nhiễm trùng). |
| - Phục hồi cơ năng: Tần suất đại tiện (tháng 1, 3, 6, 12, 18, 24), kiểm |
| soát phân, rối loạn sinh dục nam sau 3 tháng. |
| - Kết quả xa: Tái phát tại chỗ, di căn xa, sống thêm không bệnh và sống |
| thêm toàn bộ 1, 2, 3, 4, 5 năm (phân tích Kaplan-Meier). |
+-----------------------------------------------------------------------------+
- Xử lý số liệu: Thu thập theo bệnh án mẫu thống nhất; phân tích thống kê y học bằng phần mềm chuyên dụng; kiểm định các biến định tính bằng test Chi-bình phương ($\chi^2$) hoặc Fisher's exact test; kiểm định biến định lượng bằng Student's t-test hoặc Mann-Whitney U; ước tính xác suất sống thêm theo phương pháp Kaplan-Meier.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về dịch tễ học, giải phẫu học ứng dụng, bệnh học phân tử và các tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị phẫu thuật ung thư trực tràng. Tác giả phân tích chi tiết cấu trúc mạc treo trực tràng, cơ chế giữ phân tự chủ của ống hậu môn (cơ thắt trong, cơ thắt ngoài, cơ nâng hậu môn) và ranh giới giải phẫu liên quan đến khả năng bảo tồn cơ thắt.
| Phân loại giai đoạn TNM (AJCC 2010) |
Mức độ u nguyên phát (T) |
Di căn hạch vùng (N) |
Di căn xa (M) |
Tương đương Dukes |
| Giai đoạn 0 |
Tis (Ung thư tại chỗ) |
N0 |
M0 |
- |
| Giai đoạn I |
T1 (Xâm lấn dưới niêm) / T2 (Xâm lấn lớp cơ) |
N0 |
M0 |
Dukes A |
| Giai đoạn IIA |
T3 (Xâm lấn qua lớp cơ tới dưới thanh mạc/mô quanh trực tràng) |
N0 |
M0 |
Dukes B |
| Giai đoạn IIB |
T4a (Xâm lấn/thủng phúc mạc tạng) |
N0 |
M0 |
Dukes B |
| Giai đoạn IIC |
T4b (Xâm lấn trực tiếp cơ quan lân cận) |
N0 |
M0 |
Dukes B |
| Giai đoạn IIIA |
T1-T2 (N1/N1c) hoặc T1 (N2a) |
N1: 1-3 hạch / N2a: 4-6 hạch |
M0 |
Dukes C |
| Giai đoạn IIIB |
T3-T4a (N1/N1c) hoặc T2-T3 (N2a) hoặc T1-T2 (N2b) |
N2b: ≥ 7 hạch vùng |
M0 |
Dukes C |
| Giai đoạn IIIC |
T4a (N2a) hoặc T3-T4a (N2b) hoặc T4b (N1-N2) |
N1 - N2 |
M0 |
Dukes C |
| Giai đoạn IVA / IVB |
Bất kỳ T |
Bất kỳ N |
M1a (1 vị trí) / M1b (>1 vị trí) |
Dukes D |
Chương 1 cũng tổng kết vai trò của các dấu ấn sinh học phân tử (KRAS, BRAF, DCC, MSI/MMR, PD-L1), chỉ định cắt TME, các phương pháp tạo hình bóng trực tràng và nguyên lý hoạt động của các dòng máy dập ghim kép (Contour, Linear cutter, CDH Ethicon).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu bệnh nhân UTTT giữa (7–10 cm) và thấp (3–6 cm) được chỉ định phẫu thuật bảo tồn cơ thắt. Kỹ thuật mổ được chuẩn hóa: phẫu tích TME triệt căn, hạ đại tràng góc lách khi cần thiết nhằm đảm bảo miệng nối không căng, sử dụng máy cắt trực tràng cong Contour cắt ngang dưới u và máy nối tròn CDH Ethicon tạo miệng nối bên - tận, để lại đoạn quặt ngược tự do dài đúng 6 cm.
Chương này xác lập chi tiết danh mục biến số nghiên cứu bao gồm: đặc điểm lâm sàng, nồng độ CEA huyết thanh (ngưỡng bình thường 5 ng/ml), hình ảnh MRI đánh giá mức độ xâm lấn thành ruột và hạch mạc treo, số lượng hạch nạo vét được trong mổ, thời gian phẫu thuật, thời gian phục hồi lưu thông ruột (trung tiện), thời gian lưu thông tiểu, các biến chứng sớm (rò miệng nối, chảy máu, nhiễm trùng vết mổ), tỷ lệ làm hậu môn nhân tạo trên dòng bảo vệ, tần suất đại tiện sau mổ tại các mốc thời gian (1, 3, 6, 12, 18, 24 tháng), tình trạng rối loạn chức năng sinh dục nam sau 3 tháng, tỷ lệ tái phát tại chỗ, di căn xa và tỷ lệ sống thêm toàn bộ, sống thêm không bệnh tích lũy từ 1 đến 5 năm.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thống kê thu được từ nhóm bệnh nhân nghiên cứu:
- Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng: Triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là đại tiện ra máu (máu đỏ tươi hoặc lờ đờ máu cá), rối loạn thói quen đại tiện và thay đổi khuôn phân. Thăm trực tràng kết hợp nội soi đánh giá chính xác vị trí u cách rìa hậu môn. Tỷ lệ tăng CEA trước mổ (> 5 ng/ml) có tương quan với mức độ tiến triển của giai đoạn bệnh. MRI tiểu khung chứng minh độ đồng thuận cao với kết quả mô bệnh học sau mổ trong đánh giá độ sâu xâm lấn u (T) và tình trạng hạch vùng (N).
- Đặc điểm mô bệnh học: Dạng mô bệnh học chủ yếu là ung thư biểu mô tuyến thông thường (NOS), chiếm đa số với các độ biệt hóa G1, G2; ung thư biểu mô tuyến nhầy và tế bào nhẫn chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng có mức độ xâm lấn sâu hơn. Xét nghiệm diện cắt bờ trên, bờ dưới và diện cắt chu vi (CRM) sau phẫu thuật đều đảm bảo an toàn ung thư học (âm tính với tế bào u).
- Kết quả phẫu thuật và hậu phẫu: Tỷ lệ nạo vét hạch mạc treo đạt yêu cầu ung thư học (trung bình ≥ 12 hạch). Việc sử dụng máy Contour và CDH giúp thực hiện thành công miệng nối bên - tận thấp và rất thấp trong tiểu khung hẹp. Tỷ lệ biến chứng rò miệng nối ở mức thấp; thời gian trung tiện, rút thông tiểu và hồi phục vận động hậu phẫu diễn ra thuận lợi.
- Phục hồi cơ năng đại tiện và sinh dục: Tần suất đại tiện hàng ngày giảm rõ rệt theo thời gian: trong tháng đầu tiên số lần đại tiện còn cao, sau đó giảm dần và đi vào ổn định ở các mốc 3, 6, 12, 18 và 24 tháng. Tình trạng són phân, mót rặn được cải thiện đáng kể nhờ túi chứa đại tràng quặt ngược 6 cm. Tỷ lệ rối loạn cương và rối loạn phóng tinh ở nam giới sau 3 tháng được kiểm soát nhờ kỹ thuật TME bảo tồn đám rối thần kinh tự chủ tiểu khung.
- Kết quả ung thư học xa: Tỷ lệ tái phát tại chỗ duy trì ở mức thấp; tỷ lệ sống thêm không bệnh và sống thêm toàn bộ sau 1, 2, 3, 4, 5 năm khẳng định tính triệt căn của phẫu thuật cắt đoạn nối máy kết hợp TME.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 đối chiếu toàn diện các phát hiện của nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:
- Đặc điểm bệnh học và chẩn đoán: Bàn luận về tuổi, giới, giá trị của nội soi đại trực tràng ống mềm trong phát hiện tổn thương phối hợp, độ chính xác của MRI trong phân tầng nguy cơ trước mổ và vai trò của xét nghiệm CEA định kỳ trong theo dõi tái phát sau điều trị.
- Kỹ thuật phẫu thuật và tính an toàn: So sánh việc ứng dụng máy cắt nối ghim kép (DST) với kỹ thuật khâu nối bằng tay truyền thống. Máy cắt cong Contour chứng minh ưu thế vượt trội trong việc hạ thấp diện cắt dưới u ở đáy chậu hẹp mà không làm rách mạc treo hay vỡ bao u. Việc giải phóng đại tràng góc lách giúp đưa đoạn đại tràng xuống tiểu khung không bị căng, đảm bảo tưới máu tốt cho miệng nối.
- Biến chứng rò miệng nối: Bàn luận nguyên nhân gây rò miệng nối trong UTTT giữa và thấp (giảm tưới máu, miệng nối quá thấp, thiếu máu cục bộ, căng miệng nối). Đối chiếu với các nghiên cứu của Brisinda và Mc Namara D., kỹ thuật nối bên - tận có túi chữ J cải biên giúp giảm áp lực lòng ruột lên đường ghim, giảm thiểu đáng kể tỷ lệ rò miệng nối so với nối thẳng tận - tận.
- Đánh giá chức năng đại tiện và hội chứng cắt trước: Phân tích cơ chế hoạt động của túi J cải biên 6 cm. Khác với túi J kinh điển dài 8–10 cm dễ gây ứ đọng phân hoặc khó tống phân cần dùng thuốc nhuận tràng, túi J cải biên 6 cm vừa đảm bảo dung tích chứa tạm thời để giảm số lần đại tiện mỗi ngày, vừa bảo tồn khả năng tống xuất phân tự nhiên. Kết quả phục hồi đại tiện tại các mốc 3, 6, 12, 18, 24 tháng hoàn toàn tương đồng với các tổng quan hệ thống của Cochrane (Brown và cs, 2008) và Heriot và cs (2006).
- Kết quả sống thêm: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh (giai đoạn TNM, di căn hạch, độ biệt hóa mô học, diện cắt chu vi CRM), khẳng định giá trị triệt căn ngoại khoa khi tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc TME.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của luận án
-
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Cung cấp dẫn liệu khoa học có hệ thống về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng (nội soi, nồng độ CEA, hình ảnh học MRI độ phân giải cao) và mô bệnh học của ung thư trực tràng đoạn giữa và thấp ở bệnh nhân Việt Nam.
- Làm sáng tỏ cơ chế cải thiện chức năng đại tiện và giảm tỷ lệ biến chứng rò miệng nối của kỹ thuật nối máy bên - tận có túi chữ J cải biên (chiều dài quặt ngược 6 cm) so với các miệng nối tận - tận truyền thống.
-
Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng:
- Chuẩn hóa quy trình phẫu thuật cắt đoạn trực tràng kết hợp cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME) và sử dụng hệ thống máy dập ghim kép (máy cắt cong Contour và máy nối tròn CDH) trong điều trị UTTT giữa và thấp, mở rộng chỉ định bảo tồn cơ thắt hậu môn một cách an toàn cho các khối u cách rìa hậu môn từ 3–6 cm.
- Chứng minh tính khả thi, an toàn và hiệu quả của kỹ thuật tạo túi chữ J cải biên 6 cm: rút ngắn thời gian phẫu thuật so với tạo túi J kinh điển, giảm tỷ lệ rò miệng nối, hạn chế biến chứng hẹp miệng nối, giúp bệnh nhân nhanh chóng hồi phục lưu thông ruột và kiểm soát tốt số lần đại tiện hàng ngày sau mổ.
- Góp phần bảo tồn chức năng sinh dục và tiết niệu ở bệnh nhân nam nhờ tuân thủ diện phẫu tích TME bảo tồn các dây thần kinh tự chủ tiểu khung.
Kiến nghị và đề xuất
- Áp dụng rộng rãi kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME) kết hợp nối máy bên - tận có túi chữ J cải biên 6 cm tại các trung tâm ngoại khoa ung bướu trong điều trị phẫu thuật bảo tồn cơ thắt cho bệnh nhân UTTT đoạn giữa và thấp.
- Đưa chụp cộng hưởng từ (MRI) tiểu khung thành xét nghiệm thường quy trước mổ để đánh giá chính xác độ sâu xâm lấn u và tình trạng hạch mạc treo, từ đó lập kế hoạch phẫu thuật và chỉ định điều trị bổ trợ chuẩn xác.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được tiến hành trên nhóm đối tượng bệnh nhân phẫu thuật tại một trung tâm chuyên khoa ngoại ung bướu; các đánh giá về chức năng sinh dục và tiết niệu chủ yếu tập trung trên đối tượng nam giới ở mốc 3 tháng đầu sau phẫu thuật.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai các nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn để theo dõi đánh giá dài hạn (trên 5 năm) về chất lượng sống, chức năng cơ vòng và chức năng sinh dục - tiết niệu ở cả hai giới.
- Đánh giá sâu hơn sự phối hợp giữa phẫu thuật cắt nối máy với các phác đồ hóa - xạ trị tiền phẫu (neoadjuvant chemoradiotherapy) trong điều trị đa mô thức UTTT tiến triển tại chỗ (giai đoạn T3, T4 hoặc hạch dương tính).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo chuyên ngành Ung bướu và Ngoại khoa Tiêu hóa có giá trị tham khảo cho:
- Phẫu thuật viên tiêu hóa và ung bướu: Tham khảo quy trình kỹ thuật sử dụng máy dập ghim kép (Contour, Linear cutter, CDH Ethicon), kỹ thuật phẫu tích TME chuẩn xác trong tiểu khung hẹp và phương pháp tạo hình túi chữ J cải biên 6 cm để giảm thiểu rò miệng nối và cải thiện chức năng cơ năng sau mổ.
- Bác sĩ nội ung bướu và chẩn đoán hình ảnh: Nắm bắt mối tương quan giữa hình ảnh MRI tiểu khung, nồng độ CEA huyết thanh với tổn thương mô bệnh học sau phẫu thuật để phân tầng giai đoạn và theo dõi tái phát sau điều trị.
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học (Bác sĩ chuyên khoa II, Bác sĩ nội trú, Thạc sĩ): Sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu về thiết kế nghiên cứu lâm sàng ngoại khoa, phương pháp đánh giá phục hồi cơ năng tiêu hóa và phân tích sống thêm trong ung thư đại trực tràng.
Câu hỏi thường gặp
1. Phẫu thuật TME (Total Mesorectal Excision) yêu cầu diện cắt mạc treo và diện cắt thành trực tràng dưới u tối thiểu bao nhiêu cm?
Theo nguyên tắc ung thư học được Heald (1982) xác lập và nêu trong luận án, đối với UTTT đoạn giữa và thấp, phẫu thuật TME bắt buộc phải cắt toàn bộ mạc treo trực tràng với diện cắt mạc treo dưới khối u tối thiểu là 5 cm, và diện cắt thành trực tràng dưới khối u tối thiểu là 2 cm để đảm bảo không còn tế bào ung thư vi thể lan tràn theo hệ bạch huyết.
2. Ưu điểm nổi bật của kỹ thuật nối bên - tận có túi chữ J cải biên 6 cm so với túi J đại tràng kinh điển và nối thẳng tận - tận là gì?
So với nối thẳng tận - tận, kỹ thuật này tạo ra một khoang chứa phân tạm thời giúp giảm đáng kể áp lực lên miệng nối (giảm tỷ lệ rò miệng nối) và giảm tần suất đại tiện hàng ngày, khắc phục hội chứng cắt trước. So với túi J kinh điển (dài 8–10 cm), túi J cải biên 6 cm dễ thao tác hơn trong khung chậu hẹp, không đòi hỏi chiều dài đại tràng quá lớn và tránh được tình trạng ứ đọng phân gây khó đại tiện phải dùng thuốc xổ.
3. Các loại máy dập ghim (stapler) nào được sử dụng trong kỹ thuật cắt nối máy của luận án?
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật dập ghim kép (DST) gồm ba loại thiết bị: máy cắt thẳng Linear Cutter (chiều dài 60, 75, 90 mm) để cắt đại tràng trên u; máy cắt trực tràng cong Contour với 2 hàng ghim kép và dao cong giúp tiếp cận sâu đáy chậu để cắt ngang trực tràng dưới u; và máy dập ghim hình tròn cong CDH Ethicon (kích cỡ CDH 28, 29, 30, 31 mm) để tạo miệng nối bên - tận đại trực tràng.
4. Dấu hiệu hình ảnh nào trên MRI tiểu khung có giá trị cao nhất trong chẩn đoán hạch di căn mạc treo trực tràng?
Theo nghiên cứu của Brown và cộng sự (2003) được luận án trích dẫn, việc đánh giá hạch mạc treo không chỉ dựa vào kích thước (vì nhiều hạch < 5 mm vẫn di căn) mà dựa vào đặc điểm hình dạng và tín hiệu: dấu hiệu bờ hạch không đều và tín hiệu bên trong không đồng nhất (do hoại tử hoặc chứa chất nhầy ngoài tế bào) có giá trị chẩn đoán cao nhất với độ nhạy 85% và độ đặc hiệu 97%.
5. Nồng độ CEA huyết thanh bình thường là bao nhiêu và có giá trị gì trong điều trị UTTT?
Nồng độ CEA huyết thanh ở người bình thường có giới hạn cao nhất là 5 ng/ml. Trong UTTT, nồng độ CEA tương quan với giai đoạn bệnh; nếu điều trị triệt căn hiệu quả, CEA sẽ trở về bình thường sau khoảng 6 tuần. Giá trị ứng dụng lớn nhất của CEA là làm xét nghiệm định kỳ để theo dõi, phát hiện sớm tình trạng bệnh tái phát hoặc di căn xa.
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Y học của tác giả Lê Quốc Tuấn đã nghiên cứu toàn diện đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá hiệu quả của phẫu thuật cắt đoạn trực tràng kết hợp cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME) và nối máy bên - tận có túi chữ J cải biên 6 cm trong điều trị ung thư trực tràng đoạn giữa và thấp. Kết quả nghiên cứu khẳng định phương pháp phẫu thuật sử dụng hệ thống dập ghim kép đảm bảo an toàn ung thư học, đạt diện cắt âm tính, tỷ lệ tai biến rò miệng nối thấp và kiểm soát tốt nguy cơ tái phát tại chỗ. Đồng thời, kỹ thuật tạo túi chữ J cải biên 6 cm giúp phục hồi tốt chức năng cơ năng đại tiện, hạn chế hội chứng cắt trước và bảo tồn chất lượng sống cho người bệnh mà không phải mang hậu môn nhân tạo vĩnh viễn. Công trình là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho chuyên ngành Ngoại khoa Tiêu hóa và Ung bướu tại Việt Nam.