Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Đánh giá hiệu quả truyền thông về phòng và phát hiện sớm bệnh ung thư vú ở một số doanh nghiệp tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Đỗ Quang Tuyển thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội, thuộc chuyên ngành Y tế công cộng (mã số: 62720301), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Thanh Hương và GS. Trương Việt Dũng.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ung thư vú (UTV) là bệnh ung thư phổ biến hàng đầu và là nguyên nhân tử vong do ung thư cao nhất ở nữ giới trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (Globocan 2018), toàn cầu ghi nhận khoảng 2,1 triệu ca mới mắc (chiếm 11,6% tổng số các ca ung thư) và 627.000 ca tử vong (chiếm 6,6% tổng số tử vong do ung thư). Tại Việt Nam, tỷ suất mới mắc chuẩn hóa theo tuổi năm 2010 là 29,9/100.000 dân và ước tính đạt 38,1/100.000 dân vào năm 2020. Trong đó, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai địa bàn có tỷ suất mắc chuẩn hóa cao nhất cả nước (lần lượt là 32,6/100.000 dân và 22,4/100.000 dân).
Mặc dù các phương pháp phát hiện sớm như tự khám vú (TKV), khám vú lâm sàng (KVLS) tại cơ sở y tế chuyên khoa và chụp X-quang tuyến vú có khả năng giảm 25%–30% tỷ lệ tử vong ở phụ nữ trên 40 tuổi, thực hành tầm soát của phụ nữ Việt Nam còn ở mức thấp. Đáng chú ý, nữ công nhân ngành dệt may là nhóm lao động có nguy cơ cao đối với bệnh ung thư nghề nghiệp do tiếp xúc với dung môi, thuốc nhuộm và bụi xơ (đặc biệt tại các bộ phận len, bông, sợi hỗn hợp và bảo trì máy móc). Tuy nhiên, hầu hết các chương trình can thiệp truyền thông sức khỏe trước đây chỉ tập trung vào cộng đồng dân cư nói chung, chưa hướng vào nhóm nữ công nhân dệt may. Đồng thời, bảo hiểm y tế chưa chi trả cho sàng lọc ung thư và khám sức khỏe định kỳ doanh nghiệp chưa có quy định bắt buộc về tầm soát UTV.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu:
- Kiến thức, thực hành về phòng và phát hiện sớm UTV của nữ công nhân đã thực sự đúng hay chưa, những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thực hành phòng và phát hiện sớm UTV?
- Liệu các giải pháp can thiệp truyền thông có thực sự hiệu quả để tăng cường nhận thức và thay đổi hành vi thực hành phòng và phát hiện sớm UTV của các nữ công nhân hay không?
Mục tiêu nghiên cứu
- Mô tả kiến thức, thực hành về phòng và phát hiện sớm bệnh ung thư vú của nữ công nhân ở một số doanh nghiệp dệt may tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số yếu tố liên quan, năm 2017.
- Đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông phòng và phát hiện sớm bệnh ung thư vú của nữ công nhân ở một số doanh nghiệp dệt may tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nữ công nhân đang làm việc tại các doanh nghiệp dệt may, trọng tâm là nhóm nữ công nhân từ 40 tuổi trở lên.
- Phạm vi không gian: Bốn doanh nghiệp dệt may quy mô lớn tại hai đô thị trọng điểm:
- Tại Hà Nội: Công ty TNHH May Đức Giang và Tổng công ty May 10 - CTCP.
- Tại Thành phố Hồ Chí Minh: Công ty Cổ phần May Việt Thắng và Công ty Cổ phần Quốc tế Phong Phú.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng được thực hiện năm 2017; các hoạt động can thiệp và theo dõi được lồng ghép trong chuỗi dự án Truyền thông và sàng lọc ung thư vú giai đoạn 2016–2018 (thuộc chương trình "We care for her - Vì phụ nữ vì ngày mai" của Quỹ Hỗ trợ bệnh nhân ung thư - Ngày mai tươi sáng, Bộ Y tế).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
- Về tự khám vú (TKV): Các nghiên cứu quốc tế tập trung chủ yếu vào đối tượng sinh viên, giảng viên và nhân viên y tế với thiết kế cắt ngang mô tả. Ewaid và cộng sự (2018) khảo sát 200 phụ nữ tại trường đại học cho thấy 73% sinh viên và 88% giảng viên biết về TKV, nhưng chỉ 25,4% sinh viên và 24,4% giảng viên thực hành; chỉ 31% biết độ tuổi khuyến cáo bắt đầu từ 18 tuổi. Adamu và cộng sự (2016) ghi nhận 86,33% sinh viên nghe nói về TKV nhưng chỉ 17,5% có thực hành tốt. Salman AA và cộng sự (2015) ghi nhận 73,3% nghe nói về TKV nhưng chỉ 27,6% thực hành không thường xuyên. Al-Naggar và cộng sự (2011) tại Malaysia ghi nhận 55,4% thực hành TKV. Obaiko và cộng sự (2010) khảo sát 320 nữ sinh viên, chỉ có 14% thực hành thường xuyên và 1% làm đúng kỹ thuật. Các tác giả Akhtari và cộng sự (2014) tại Iran ghi nhận tỷ lệ TKV là 26,0%; Moawed SAA và cộng sự (2013) ghi nhận 85,5% TKV hàng tháng; Saadoun và cộng sự (2013) tại Jordan ghi nhận tỷ lệ TKV là 21% và chỉ 35% thực hiện đúng 6/12 bước; Yurdakos và cộng sự (2013) ghi nhận tỷ lệ TKV thường xuyên ở nhân viên y tế là 25,6% và nhân viên hành chính là 5,0%. Nghiên cứu hiếm hoi trên đối tượng công nhân nhà máy điện tử tại Malaysia của Chee HL và cộng sự (2003) cho thấy dù 77% từng nghe nói, chỉ có 21,0% thực hành TKV mỗi tháng một lần.
- Về khám vú lâm sàng (KVLS): Okobia MN và cộng sự (2011) tại Nigeria chỉ ra tỷ lệ KVLS thấp và học vấn là yếu tố quyết định. Parsa P và cộng sự (2010) nghiên cứu phụ nữ nhập cư Nam Á tại Canada ghi nhận 38,5% từng KVLS. Ahmad F và cộng sự (2004) khảo sát 425 giáo viên nữ tại Malaysia cho thấy nhận thức về bệnh và việc thăm khám bác sĩ thường xuyên là yếu tố dự báo có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
- Về chụp X-quang tuyến vú: El Asmar MI và cộng sự (2018) khảo sát 371 phụ nữ Lebanon tại Beirut, ghi nhận điểm kiến thức trung bình đạt 55,5 ± 17,1% và điểm thực hành đạt 77,9 ± 36,5%; các rào cản chính là sợ nhận kết quả xấu, đau và chi phí. Rolina và cộng sự (2017) tại Ả Rập Xê Út ghi nhận 40% từng chụp X-quang vú, giảm dần theo độ tuổi (41–50 tuổi: 44%; >60 tuổi: 24%). Abu-Helalah MA và cộng sự (2015) chỉ ra rào cản chụp X-quang vú gồm sợ kết quả (63,8%), thiếu hỗ trợ môi trường (59,7%), chi phí (53,4%) và niềm tin tôn giáo (51,1%).
- Về phối hợp ba biện pháp sàng lọc: Aljohani S và cộng sự (2016) ghi nhận tỷ lệ thực hành TKV, KVLS và chụp X-quang vú lần lượt là 35,5%, 27,4% và 37,8%. Deniz S và cộng sự (2017) tại Thổ Nhĩ Kỳ trên 1.782 phụ nữ ghi nhận 49,0% không TKV, 67,2% chưa từng KVLS và 62,0% chưa từng chụp X-quang. Donnelly TT và cộng sự (2014) ghi nhận 13,9% TKV hàng tháng, 31,3% đi KVLS và 26,9% phụ nữ trên 40 tuổi chụp X-quang vú định kỳ. Opuku và cộng sự (2012) tại Ghana kết hợp định lượng và phỏng vấn sâu cho thấy tỷ lệ TKV là 32%, KVLS là 12% và chụp X-quang chỉ đạt 2%.
- Về các can thiệp truyền thông: Agide FD và cộng sự (2018) tổng hợp các mô hình can thiệp hiệu quả gồm: can thiệp nhóm bằng video, hình ảnh (Yoshany N, 2016; Gupta SK, 2009; Rezaeian M, 2014; El-Ata ABA, 2016; Elsabour MA, 2013; Karayurt Ö, 2009); can thiệp gắn với yếu tố văn hóa và tôn giáo (Garza MA, 2015; Kim JH, 2010; Ahmadian M, 2012); can thiệp dựa trên Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Parsa P, 2016; Eskandari A, 2014); can thiệp cá nhân qua điện thoại và internet (Nasiriani Kh, 2017; Bowen DJ, 2011); can thiệp cộng đồng (Park K, 2011; Ayash C, 2011; Paskett ED và cộng sự); và truyền thông đa phương tiện, tiếp thị xã hội (Jenkins CN và cộng sự; Avila IC, 2016; Patricia YT, 2008).
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung đánh giá cắt ngang tại cộng đồng: Bùi Thị Duyên (2018) tại Thanh Hóa ghi nhận 37,2% đạt kiến thức, 13,8% từng TKV, 17% từng KVLS và 10,1% từng chụp X-quang. Nguyễn Thị Hằng (2017) và Nguyễn Ngọc Bích (2008) tại Hải Dương ghi nhận kiến thức và thực hành TKV thấp. Nguyễn Hữu Châu (2015) tại Khánh Hòa ghi nhận 49,5% TKV hàng tháng, 37,9% đi khám vú ít nhất một lần và 14,3% khám định kỳ hàng năm. Đỗ Quốc Tiệp (2015) tại Quảng Bình khảo sát nhận thức dấu hiệu báo động UTV (u cục 48,8%, hạch nách 23,9%, sần da cam 20%). Bùi Thị Thảo (2012) tại Cầu Giấy, Hà Nội ghi nhận 25,3% đạt kiến thức, 18,5% TKV hàng tháng, 32% KVLS và 6% chụp X-quang vú. Về can thiệp và khám sàng lọc lâm sàng, Phạm Cẩm Phương và cộng sự (2016, 2017) ghi nhận tỷ lệ TKV hàng tháng của phụ nữ đến khám dao động từ 20,1% đến 34,3%, phát hiện tỷ lệ UTV qua khám sàng lọc từ 0,7% đến 1,8%.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Các công trình trong nước chủ yếu mô tả cắt ngang tại hộ gia đình ở nông thôn hoặc đô thị, chưa có nghiên cứu can thiệp truyền thông thay đổi hành vi có hệ thống trên nhóm nữ công nhân tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp dệt may — nơi tập trung lao động nữ trong độ tuổi nguy cơ cao, chịu áp lực thời gian làm việc theo ca kíp và thiếu tiếp cận dịch vụ y tế dự phòng. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc triển khai nghiên cứu can thiệp trước - sau có đối chứng/theo dõi trực tiếp trên nữ công nhân dệt may tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Mô hình các giai đoạn thay đổi hành vi (Transtheoretical Model - TTM): Luận án vận dụng mô hình của Prochaska và DiClemente (1983, 1992) gồm 5 giai đoạn liên tục để thiết kế và đánh giá nội dung truyền thông:
- Giai đoạn 1: Tiền dự định (Nhận ra hành vi có hại): Nữ công nhân chưa có ý định tầm soát; cán bộ truyền thông cung cấp thông tin về nguy cơ (tuổi >40, tiền sử gia đình, kinh nguyệt sớm, mãn kinh muộn, không sinh con/sinh muộn) và lợi ích phát hiện sớm.
- Giai đoạn 2: Dự định (Quan tâm đến hành vi mới): Nữ công nhân cân nhắc lợi - hại; truyền thông giải thích kỹ thuật và địa chỉ dịch vụ, hỗ trợ giải tỏa rào cản tâm lý.
- Giai đoạn 3: Chuẩn bị (Đặt mục đích để thay đổi): Nữ công nhân quyết tâm thay đổi; thiết lập cam kết, tập huấn mạng lưới cộng tác viên tại phân xưởng, tổ chức nữ công và nhân viên trạm y tế doanh nghiệp để hỗ trợ.
- Giai đoạn 4: Hành động (Làm thử, đánh giá): Nữ công nhân thực hành TKV, đi KVLS và chụp X-quang tuyến vú; nhân viên y tế hướng dẫn cầm tay chỉ việc và chỉnh sửa thao tác.
- Giai đoạn 5: Duy trì (Duy trì hành vi): Tạo thói quen TKV định kỳ hàng tháng, KVLS và chụp X-quang hàng năm; hình thành mạng lưới hỗ trợ nội bộ từ công đoàn và đồng nghiệp.
- Khung lý thuyết các yếu tố văn hóa - xã hội tác động đến sức khỏe: Dựa trên mô hình của WHO, khung phân tích bao gồm:
- Yếu tố cá nhân: tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp của chồng.
- Yếu tố lối sống và điều kiện sống: tiền sử bệnh tuyến vú, tiền sử gia đình mắc UTV, tiền sử dùng thuốc nội tiết, tiền sử kinh nguyệt, chỉ số khối cơ thể (BMI).
- Yếu tố kinh tế - xã hội: mức độ tiếp cận các nguồn thông tin truyền thông về phát hiện sớm UTV.
- Nhóm biến số đầu ra: Kiến thức và thực hành về phòng bệnh, TKV (5 bước chuẩn), KVLS và chụp X-quang tuyến vú.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính; thiết kế can thiệp cộng đồng/bán can thiệp so sánh trước và sau can thiệp.
- Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu:
- Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp: Doanh nghiệp dệt may có tối thiểu 300 nữ công nhân từ 40 tuổi trở lên, ban lãnh đạo cam kết đồng thuận tham gia chương trình. Bốn doanh nghiệp được chọn gồm May Đức Giang, May 10 (Hà Nội), May Việt Thắng và May Quốc tế Phong Phú (TP.HCM).
- Chọn mẫu định lượng: Điều tra toàn bộ hoặc chọn mẫu ngẫu nhiên nữ công nhân từ 40 tuổi trở lên tại các phân xưởng.
- Chọn mẫu định tính: Lựa chọn có chủ đích đại diện lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ y tế cơ quan, cán bộ công đoàn/nữ công và các nữ công nhân đại diện các phân xưởng.
- Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu:
- Nghiên cứu định lượng: Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc thiết kế sẵn; đánh giá thực hành kỹ năng TKV thông qua quan sát trực tiếp từng công nhân thao tác trên cơ thể hoặc mô hình theo bảng kiểm 5 bước chuẩn của Bộ Y tế.
- Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) nhằm xác định rào cản, nhu cầu thông tin và đánh giá tính khả thi, khả năng duy trì mô hình.
- Các hoạt động can thiệp truyền thông:
- Truyền thông gián tiếp: Phát tờ rơi hướng dẫn 5 bước TKV, treo pano/áp phích tại phân xưởng, phát thanh chuyên đề qua hệ thống loa nội bộ của doanh nghiệp, chiếu video clip hướng dẫn tại nhà ăn và khu sinh hoạt chung.
- Truyền thông trực tiếp và hỗ trợ: Tổ chức các buổi nói chuyện sức khỏe chuyên đề của bác sĩ chuyên khoa ung bướu, thảo luận nhóm nhỏ, đào tạo mạng lưới cộng tác viên nữ công nhân, hướng dẫn thực hành TKV 1-1 có bảng kiểm, tổ chức các buổi khám sàng lọc vú lâm sàng và tư vấn chỉ định chụp X-quang tuyến vú tại chỗ hoặc chuyển tuyến.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở dịch tễ học, lâm sàng và lý luận truyền thông giáo dục sức khỏe. Về dịch tễ học, UTV đứng đầu về tỷ lệ mắc ở nữ giới toàn cầu (tỷ lệ chuẩn theo tuổi cao nhất ở Úc/New Zealand: 94,2/100.000 dân; Bỉ: 92,6/100.000 dân) và tử vong cao nhất tại Melanesia/Fiji (25,5/100.000 dân). Tại Việt Nam, tỷ suất mắc năm 2018 ghi nhận 15.229 ca mới (tỷ suất chuẩn hóa 26,4/100.000 dân), cao nhất ở Hà Nội (32,6), tiếp theo là Cần Thơ (24,3), TP.HCM (22,4) và thấp nhất tại Thái Nguyên (10,3/100.000 dân).
Chương 1 phân tích chi tiết các yếu tố nguy cơ: nội tiết (estrogen, progestin liều cao kéo dài), gia đình (nguy cơ tăng từ 1,5 đến 2,5 lần; cao nhất khi có mẹ/chị em gái mắc UTV cả hai bên vú), tuổi tác (nguy cơ tăng từ 0,5% ở nhóm 20–40 tuổi lên 5,5% ở nhóm 65–85 tuổi), tiền sử sản phụ khoa (có kinh trước 12 tuổi, mãn kinh sau 55 tuổi, không sinh con hoặc sinh con đầu lòng sau 30 tuổi; cho con bú là yếu tố bảo vệ), chế độ ăn (hấp thu mỡ động vật liên quan trực tiếp đến tỷ lệ tử vong), môi trường (bức xạ ion hóa phơi nhiễm sau 10–15 năm) và đột biến gen (đặc biệt đột biến gen ức chế u BRCA-1 và BRCA-2 trên nhiễm sắc thể 17 và 13, gặp ở 0,2% dân số; 80% người mang gen đột biến có nguy cơ mắc trong đời theo Gareth Evans 2006; gen P53, hội chứng Li-Fraumeni, Cowden, Muir).
Quy trình kỹ thuật 5 bước tự khám vú (thực hiện sau sạch kinh 5 ngày hoặc ngày cố định trong tháng đối với phụ nữ mãn kinh) được xác lập làm chuẩn đánh giá:
- Bước 1: Đứng thẳng hoặc ngồi trước gương, xuôi hai tay, quan sát hình dạng, kích thước, sự đối xứng và biến dạng da vú.
- Bước 2: Hai cánh tay giang rộng, đặt hai bàn tay sau đầu, quan sát sự thay đổi bề mặt vú.
- Bước 3: Nằm ngửa, kê gối mỏng dưới vai trái, tay trái đưa sau gáy, dùng 3 ngón tay phải áp phẳng day tròn theo đường xoắn ốc từ quầng vú ra ngoài rìa.
- Bước 4: Di chuyển ngón tay khám dần lên vùng nách và hõm nách tìm khối u, hạch.
- Bước 5: Dùng ngón cái và ngón trỏ nắn nhẹ đầu núm vú kiểm tra tiết dịch/rỉ máu bất thường; sau đó đổi bên làm tương tự với vú phải.
Bối cảnh thực địa tại 4 doanh nghiệp dệt may trước nghiên cứu (năm 2016) được tổng hợp như sau:
| STT |
Tên doanh nghiệp dệt may |
Tổng số công nhân |
Số lượng công nhân nữ |
Số lượng nữ công nhân ≥ 40 tuổi |
Nhân lực y tế cơ quan |
Số ca UTV ghi nhận năm 2016 |
| 1 |
Công ty TNHH May Đức Giang (Hà Nội) |
1.645 |
1.150 |
485 |
1 bác sĩ, 2 điều dưỡng, 1 dược sĩ TC |
02 |
| 2 |
Tổng công ty May 10 - CTCP (Hà Nội) |
1.856 |
1.336 |
492 |
8 bác sĩ, 3 điều dưỡng, 1 dược sĩ |
00 |
| 3 |
Công ty Cổ phần May Việt Thắng (TP.HCM) |
1.700 |
1.195 |
420 |
1 bác sĩ, 5 điều dưỡng, 1 dược sĩ |
04 |
| 4 |
Công ty Cổ phần Quốc tế Phong Phú (TP.HCM) |
1.150 |
759 |
382 |
1 bác sĩ, 6 điều dưỡng |
01 |
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết thiết kế can thiệp truyền thông thay đổi hành vi kết hợp đánh giá định lượng và định tính:
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Nữ công nhân làm việc chính thức tại 4 nhà máy dệt may, tuổi từ 40 trở lên, tự nguyện tham gia.
- Phương pháp can thiệp: Phối hợp đồng bộ kênh truyền thông gián tiếp (tờ rơi 5 bước TKV, áp phích tại xưởng, bản tin truyền thanh định kỳ, video clip giờ nghỉ) và kênh truyền thông trực tiếp (tập huấn giảng viên nguồn/cộng tác viên nữ công, hội thảo chuyên đề do bác sĩ Bệnh viện K và Bệnh viện Ung bướu TP.HCM báo cáo, thực hành TKV có giám sát của cán bộ y tế, tổ chức khám sàng lọc lâm sàng tại doanh nghiệp).
- Kỹ thuật kiểm soát sai số: Chuẩn hóa bộ câu hỏi phỏng vấn thử nghiệm trước khi điều tra chính thức; tập huấn thống nhất kỹ thuật cho điều tra viên (ĐTV); sử dụng bảng kiểm 5 bước thống nhất khi quan sát thao tác TKV; làm sạch và nhập liệu hai lần (double data entry) bằng phần mềm chuyên dụng; tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học (được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y Hà Nội phê duyệt).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu được trình bày qua các khối dữ liệu thực chứng (tương ứng hệ thống 31 bảng và 3 biểu đồ):
- Đặc điểm nền của đối tượng nghiên cứu: Tỷ lệ nữ công nhân trong độ tuổi 40–49 chiếm đa số; phần lớn đã lập gia đình; điều kiện làm việc tiếp xúc với bụi vải và tiếng ồn phân xưởng.
- Thực trạng kiến thức và thực hành trước can thiệp (TCT):
- Kiến thức: Tỷ lệ nữ công nhân hiểu đúng về các yếu tố nguy cơ UTV, độ tuổi cần tầm soát và tần suất TKV hàng tháng đạt mức thấp. Nhận thức về vai trò của chụp X-quang tuyến vú và KVLS còn hạn chế.
- Thực hành: Tỷ lệ nữ công nhân từng tự khám vú và duy trì TKV hàng tháng trước can thiệp ở mức rất thấp; tỷ lệ thực hiện đúng toàn bộ 5 bước theo bảng kiểm quan sát trực tiếp bởi nhân viên y tế gần như không đáng kể (đa phần bỏ sót bước quan sát trước gương và bước kiểm tra hố nách/nắn núm vú).
- Rào cản chính: Không có triệu chứng đau/khối u nên không khám, thiếu kiến thức kỹ thuật TKV, không có thời gian, e ngại khám phụ khoa/khám vú và lo ngại chi phí chụp X-quang.
- Các yếu tố liên quan (Phân tích đa biến): Học vấn, tiền sử tiếp cận thông tin truyền thông sức khỏe, tiền sử gia đình và thời gian công tác tại doanh nghiệp có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức và thực hành TKV, KVLS và chụp X-quang tuyến vú của nữ công nhân.
- Hiệu quả can thiệp truyền thông (SCT so với TCT):
- Tỷ lệ kiến thức chung về phòng bệnh UTV, kiến thức về quy trình 5 bước TKV, hiểu biết về chỉ định KVLS và chụp X-quang vú tăng lên rõ rệt sau can thiệp với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05 đến p < 0,001).
- Thực hành TKV tăng mạnh cả về tỷ lệ thực hiện hàng tháng lẫn kỹ năng thao tác chuẩn xác 5 bước theo bảng kiểm quan sát của nhân viên y tế.
- Số lượng nữ công nhân tự phát hiện các khối u cục, tổn thương bất thường tại tuyến vú sau can thiệp tăng lên; các trường hợp nghi ngờ được chuyển tuyến khám chuyên khoa kịp thời.
- Tỷ lệ tham gia khám vú lâm sàng và sàng lọc bằng chụp X-quang vú tại cơ sở chuyên khoa tăng đáng kể.
- Khả năng duy trì và mở rộng mô hình: Ban lãnh đạo và tổ chức công đoàn tại cả 4 công ty cam kết duy trì mạng lưới cộng tác viên truyền thông, đưa nội dung khám sàng lọc tuyến vú vào kế hoạch chăm sóc sức khỏe lao động nữ định kỳ hàng năm.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 phân tích, so sánh kết quả thu được với các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:
- Về thực trạng nhận thức: Kết quả trước can thiệp của luận án tương đồng với các nghiên cứu của Chee HL (2003) trên công nhân điện tử tại Malaysia, Bùi Thị Duyên (2018) tại Thanh Hóa và Bùi Thị Thảo (2012) tại Hà Nội, phản ánh khoảng trống lớn về kiến thức tầm soát ở nhóm lao động nữ trực tiếp sản xuất so với nhóm trí thức hoặc nhân viên y tế (như trong nghiên cứu của Ewaid, 2018; Yurdakos, 2013).
- Về cơ chế thay đổi hành vi qua can thiệp: Việc áp dụng Mô hình các giai đoạn thay đổi (TTM) kết hợp đa dạng hóa kênh truyền thông (kết hợp tài liệu in ấn, loa truyền thanh và hướng dẫn thực hành 1-1) chứng minh tính tương thích cao với môi trường công nghiệp. Sự chuyển biến từ giai đoạn Tiền dự định sang Hành động và Duy trì được thúc đẩy mạnh mẽ khi có sự tham gia của mạng lưới cộng tác viên đồng đẳng tại tổ đội sản xuất.
- So sánh hiệu quả can thiệp: Mức độ cải thiện kiến thức và thực hành TKV 5 bước trong luận án tương đương với các thử nghiệm can thiệp nhóm của Yoshany N (2016) tại Iran, Gupta SK (2009) tại Ấn Độ, El-Ata ABA (2016) và Elsabour MA (2013) tại Ai Cập.
- Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu:
- Điểm mạnh: Cỡ mẫu lớn, triển khai trên đối tượng công nhân dệt may tại cả hai miền Nam - Bắc; đánh giá thực hành bằng bảng kiểm quan sát trực tiếp 5 bước thay vì chỉ dùng câu hỏi tự báo cáo; can thiệp gắn liền với khám sàng lọc thực tế.
- Hạn chế: Khó khăn trong việc sắp xếp thời gian can thiệp trực tiếp do phụ thuộc vào dây chuyền sản xuất ca kíp của nhà máy; thời gian theo dõi sau can thiệp chưa đủ dài để đánh giá tỷ lệ sống thêm hoặc tác động giảm tỷ lệ tử vong lâu dài.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận
- Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng toàn diện đầu tiên tại Việt Nam về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành tầm soát phát hiện sớm ung thư vú (bao gồm cả ba phương pháp: TKV, KVLS và chụp X-quang tuyến vú) trên đối tượng đặc thù là nữ công nhân ngành dệt may từ 40 tuổi trở lên tại các đô thị lớn.
- Ứng dụng và chuẩn hóa thành công Mô hình các giai đoạn thay đổi hành vi (Prochaska & DiClemente) trong xây dựng quy trình can thiệp truyền thông sức khỏe doanh nghiệp, chứng minh tính phù hợp của lý thuyết chuyển đổi hành vi từng bước đối với môi trường sản xuất công nghiệp.
- Chuẩn hóa bộ công cụ lượng giá kỹ năng thực hành tự khám vú (bảng kiểm 5 bước quan sát trực tiếp) trong nghiên cứu y tế công cộng tại Việt Nam, khắc phục sai số tự báo cáo của các nghiên cứu trước đây.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Xây dựng và thử nghiệm thành công mô hình truyền thông phối hợp trực tiếp - gián tiếp tại nơi làm việc: kết hợp giữa tài liệu trực quan (tờ rơi, áp phích), truyền thông đại chúng nội bộ (loa phát thanh, video giờ nghỉ), đào tạo mạng lưới cộng tác viên nữ công và tổ chức khám sàng lọc tại chỗ.
- Nâng cao rõ rệt tỷ lệ nữ công nhân thực hành tự khám vú đúng quy trình kỹ thuật, tăng số lượng trường hợp phát hiện sớm bất thường tuyến vú để can thiệp y khoa kịp thời.
- Tạo cơ sở thực tiễn để vận động ban lãnh đạo các doanh nghiệp đưa gói khám sàng lọc ung thư vú vào chương trình khám sức khỏe định kỳ cho lao động nữ, đồng thời cung cấp bằng chứng phục vụ đề xuất chính sách bảo hiểm y tế chi trả cho sàng lọc ung thư.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với các doanh nghiệp dệt may: Duy trì hoạt động của mạng lưới cộng tác viên truyền thông sức khỏe tại các tổ sản xuất; phát sóng định kỳ tài liệu truyền thông qua loa nội bộ; chủ động phối hợp với các cơ sở y tế chuyên khoa ung bướu tổ chức khám vú lâm sàng và siêu âm/chụp X-quang tuyến vú định kỳ cho lao động nữ từ 40 tuổi trở lên.
- Đối với ngành Y tế và Bảo hiểm Xã hội: Hoàn thiện hướng dẫn chuyên môn về tầm soát bệnh nghề nghiệp và bệnh không lây nhiễm tại doanh nghiệp; xem xét lộ trình từng bước đưa chi phí sàng lọc ung thư vú vào danh mục được bảo hiểm y tế đồng chi trả cho nhóm phụ nữ nguy cơ cao.
- Đối với Quỹ Ngày mai tươi sáng và các tổ chức xã hội: Tiếp tục nhân rộng mô hình dự án "We care for her" sang các khu công nghiệp thuộc các ngành nghề có yếu tố độc hại khác như da giày, điện tử, hóa chất trên phạm vi toàn quốc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Việc triển khai can thiệp trực tiếp gặp nhiều áp lực về thời gian do phải đảm bảo định mức sản xuất và tiến độ ca kíp của công nhân tại các xí nghiệp dệt may.
- Nghiên cứu tập trung vào 4 doanh nghiệp lớn có trạm y tế cơ quan hoàn chỉnh tại Hà Nội và TP.HCM, nên tính đại diện có thể chưa bao quát hết các cơ sở sản xuất dệt may quy mô nhỏ, xưởng may tư nhân ở khu vực nông thôn.
- Chưa đánh giá được hiệu quả can thiệp trên chỉ số giảm tỷ lệ tử vong hoặc thời gian sống thêm do đòi hỏi thời gian theo dõi dọc kéo dài nhiều năm.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông tầm soát ung thư vú tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các khu chế xuất và cụm công nghiệp ngoài quốc doanh.
- Nghiên cứu chi phí - hiệu quả (cost-effectiveness analysis) của việc tích hợp gói khám sàng lọc UTV vào khám sức khỏe định kỳ doanh nghiệp.
- Nghiên cứu theo dõi dọc thuần tập (cohort study) trong 5–10 năm để đánh giá tỷ lệ phát hiện UTV giai đoạn sớm và chỉ số sống thêm của nhóm công nhân được can thiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Y xã hội học: Tham khảo về phương pháp thiết kế can thiệp thay đổi hành vi (mô hình TTM), kỹ thuật kết hợp định lượng - định tính, và phương pháp xây dựng bảng kiểm quan sát kỹ năng y tế.
- Cán bộ quản lý y tế lao động và ban lãnh đạo doanh nghiệp: Ứng dụng trực tiếp quy trình tổ chức truyền thông và sàng lọc bệnh tật cho lao động nữ tại các nhà máy, xí nghiệp; tham khảo bảng kiểm 5 bước TKV để huấn luyện cho công nhân.
- Người làm chính sách y tế và bảo hiểm: Sử dụng bằng chứng thực địa về thực trạng thiếu hụt nhận thức và nhu cầu sàng lọc của công nhân để xây dựng danh mục quyền lợi khám sức khỏe định kỳ và bảo hiểm y tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Mô hình lý thuyết chính được sử dụng để xây dựng nội dung can thiệp trong luận án là gì?
Luận án sử dụng Mô hình các giai đoạn thay đổi hành vi (Transtheoretical Model - TTM) của Prochaska và DiClemente, bao gồm 5 giai đoạn: Tiền dự định (nhận ra hành vi có hại), Dự định (quan tâm đến hành vi mới), Chuẩn bị (đặt mục đích thay đổi), Hành động (làm thử và đánh giá) và Duy trì (duy trì hành vi thường xuyên). Ngoài ra, nghiên cứu còn kết hợp khung các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe của WHO.
2. Bốn doanh nghiệp dệt may được lựa chọn nghiên cứu có đặc điểm quy mô và tình hình mắc ung thư vú năm 2016 như thế nào?
Bốn doanh nghiệp gồm: Công ty TNHH May Đức Giang (1.150 nữ, 485 nữ ≥ 40 tuổi, ghi nhận 2 ca UTV năm 2016); Tổng công ty May 10 - CTCP (1.336 nữ, 492 nữ ≥ 40 tuổi, 0 ca UTV); Công ty Cổ phần May Việt Thắng (1.195 nữ, 420 nữ ≥ 40 tuổi, 4 ca UTV); và Công ty Cổ phần Quốc tế Phong Phú (759 nữ, 382 nữ ≥ 40 tuổi, 1 ca UTV).
3. Quy trình tự khám vú (TKV) trong luận án gồm những bước cụ thể nào?
Quy trình gồm 5 bước chuẩn:
- Bước 1: Đứng/ngồi trước gương, xuôi hai tay, quan sát hình dạng, kích thước, sự đối xứng và bề mặt da vú.
- Bước 2: Hai cánh tay giang rộng, đặt bàn tay sau đầu, quan sát sự biến dạng của ngực.
- Bước 3: Nằm ngửa, đặt gối mỏng dưới vai trái, tay trái sau gáy, dùng 3 ngón tay phải day tròn theo hình xoắn ốc từ quầng vú ra ngoài rìa.
- Bước 4: Di chuyển ngón tay khám dọc lên vùng nách và hõm nách tìm khối u/hạch.
- Bước 5: Dùng ngón cái và ngón trỏ nắn nhẹ đầu núm vú kiểm tra tiết dịch/máu bất thường; sau đó thực hiện tương tự với vú phải.
4. Đâu là những rào cản chính khiến nữ công nhân dệt may không thực hành sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú trước can thiệp?
Các rào cản chính được văn bản chỉ ra gồm: chủ quan khi không thấy triệu chứng đau hoặc u cục bất thường; thiếu kiến thức và kỹ năng thực hành đúng các bước TKV; áp lực thời gian làm việc ca kíp không thể đi khám; tâm lý e ngại bộc lộ cơ thể khi khám vú lâm sàng; và rào cản kinh tế về chi phí khi chụp X-quang tuyến vú không được bảo hiểm y tế chi trả.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đỗ Quang Tuyển (2021) là công trình nghiên cứu can thiệp y tế công cộng có hệ thống về phòng và phát hiện sớm ung thư vú trên nhóm nữ công nhân dệt may tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Bằng việc kết hợp các phương pháp định lượng, quan sát trực tiếp theo bảng kiểm 5 bước và phỏng vấn sâu định tính dựa trên Mô hình các giai đoạn thay đổi hành vi, luận án đã chứng minh hiệu quả rõ rệt của chương trình truyền thông đa kênh tại nơi làm việc trong việc nâng cao kiến thức và cải thiện thực hành tầm soát của nữ công nhân. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc nhân rộng mô hình chăm sóc sức khỏe tuyến vú tại các doanh nghiệp công nghiệp, đồng thời là luận cứ quan trọng để đề xuất hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế và y tế lao động tại Việt Nam.