Tổng quan luận án
Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) và kiểm soát phụ gia thực phẩm (PGTP) giữ vai trò then chốt đối với sức khỏe cộng đồng và sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Việc lạm dụng các hóa chất không nằm trong danh mục cho phép như hàn the (borax) hay các loại phẩm màu kiềm công nghiệp trong chế biến và kinh doanh thực phẩm vẫn diễn ra phức tạp tại nhiều địa phương ở Việt Nam. Các hóa chất độc hại này khi hấp thu vào cơ thể tích lũy lâu dài tại mô gan, thận, hệ thần kinh và làm tăng nguy cơ ngộ độc cấp tính, mạn tính cũng như đột biến gen và ung thư. Thực hiện Chỉ thị số 13/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, ngành y tế đã phối hợp với các ban ngành liên quan siết chặt công tác giám sát việc kinh doanh và sử dụng chất bảo quản, phẩm màu, PGTP.
Tại tỉnh Cà Mau, tính đến cuối năm 2016 có 5.364 cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh và dịch vụ ăn uống. Dù công tác kiểm tra liên ngành đã được triển khai, các vi phạm về phụ gia cấm vẫn tồn tại: trong tổng số 5.973 mẫu thực phẩm được kiểm tra nhanh hóa lý, tỷ lệ mẫu đạt là 80,81% (4.827 mẫu) và vẫn còn 19,19% mẫu không đạt. Trước bối cảnh đó, luận án chuyên khoa cấp II chuyên ngành Y tế công cộng của tác giả Tô Hiếu Liêm thực hiện đề tài nhằm giải quyết khoảng trống dữ liệu thực chứng về thực trạng sử dụng hàn the, phẩm màu kiềm, các yếu tố liên quan đến kiến thức - thái độ - thực hành (KAP) của chủ cơ sở, đồng thời lượng hóa kết quả của mô hình can thiệp kết hợp truyền thông giáo dục với thanh tra, kiểm tra trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định tỷ lệ sử dụng hàn the và phẩm màu tại các cơ sở kinh doanh, chế biến thực phẩm ở Cà Mau năm 2017 – 2018.
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến sử dụng hàn the và phẩm màu trong chế biến thực phẩm của các cơ sở kinh doanh, chế biến thực phẩm ở Cà Mau năm 2017 – 2018.
- Đánh giá kết quả can thiệp bằng truyền thông về sử dụng hàn the và phẩm màu trong thực phẩm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các chủ cơ sở kinh doanh, chế biến thực phẩm và các mẫu sản phẩm thực phẩm thuộc các nhóm có nguy cơ cao (thịt và sản phẩm từ thịt, thủy hải sản chế biến, sản phẩm từ tinh bột, rau củ quả muối chua, nước giải khát, rượu bia, gia vị nước chấm).
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại 3 địa bàn đại diện của tỉnh Cà Mau, gồm thành phố Cà Mau (trung tâm kinh tế - văn hóa), huyện Cái Nước (đại diện vùng phía Bắc) và huyện Đầm Dơi (đại diện vùng phía Đông Nam).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai thực hiện từ tháng 03/2017 đến tháng 10/2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Theo các báo cáo từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các bệnh truyền qua thực phẩm là gánh nặng sức khỏe toàn cầu. Hơn một phần ba dân số tại các nước phát triển chịu ảnh hưởng bởi bệnh do thực phẩm mỗi năm; tại các quốc gia như Hà Lan, Nga, Trung Quốc và Hàn Quốc, hàng ngàn ca ngộ độc thực phẩm được ghi nhận với chi phí ngăn chặn lên tới hàng tỷ đô la. Bệnh tiêu chảy liên quan đến thực phẩm và nguồn nước ước tính cướp đi sinh mạng của 2,2 triệu người mỗi năm, trong đó có 1,9 triệu trẻ em. Riêng tại khu vực Tây Thái Bình Dương, ước tính mỗi năm có khoảng 125 triệu người mắc bệnh do thực phẩm ô nhiễm và hơn 50.000 trường hợp tử vong. Tại Đông Nam Á, Thái Lan từng ghi nhận trung bình 1 triệu ca tiêu chảy mỗi năm, riêng năm 2003 có 126.185 ca ngộ độc thực phẩm và 956.313 ca tiêu chảy cấp liên quan đến thực phẩm.
Tại Việt Nam, tỷ lệ ngộ độc thực phẩm ghi nhận trong giai đoạn 2011 – 2015 có số người mắc ngộ độc thực phẩm cấp tính trên 100.000 dân ước tính nhỏ hơn hoặc bằng 8; năm 2015 ghi nhận 35 vụ ngộ độc thực phẩm quy mô trên 30 người mắc (giảm 29% so với giai đoạn 2006 – 2010). Tuy nhiên, các vụ ngộ độc hóa chất nghiêm trọng vẫn phát sinh, điển hình như vụ ngộ độc Methanol tại Lai Châu vào tháng 02/2017 làm 8 người tử vong. Nhiều công trình nghiên cứu tại các địa phương trên cả nước đã chỉ ra thực trạng vi phạm trong việc sử dụng phụ gia và hóa chất cấm:
- Lê Minh Uy (2009) tại An Giang: 65% người sản xuất có kiến thức đúng về ATVSTP, 24,42% có thái độ đúng nhưng tỷ lệ thực hành đúng chỉ đạt 0,26%.
- Nghiên cứu tại Hà Nội (2008): 61,8% chủ cơ sở có kiến thức đạt và 52,2% thực hành đạt các quy định về ATVSTP.
- Nguyễn Thu Ngọc Diệp (2008) tại Thành phố Hồ Chí Minh: xét nghiệm ghi nhận 68,19% mẫu dương tính với hàn the, 17,21% dương tính với formol, 74,8% dương tính với chất tẩy trắng và 53,84% sử dụng phẩm màu ngoài danh mục Bộ Y tế.
- Nguyễn Thanh Trúc Hằng (2009) tại Long Thành, Đồng Nai (giai đoạn 2006 – 2008): đánh giá mô hình điểm thức ăn đường phố ghi nhận tỷ lệ dùng phụ gia ngoài danh mục giảm từ 19% xuống 10%.
- Trương Đình Định tại Quảng Bình: tỷ lệ mẫu chứa hàn the từ 31,2% đến 36,9%, acid sorbic từ 8,3% đến 8,8%, formol từ 1% đến 2,2%, và phẩm màu ngoài danh mục là 29,3%; tỷ lệ chủ cơ sở hiểu sai về hàn the chiếm 53,6%, formol 53,9%, chất bảo quản 45,8% và phẩm màu 39,0%.
- Nguyễn Văn Cao (2011) tại Long Thành, Đồng Nai: 76% cơ sở dùng nguyên liệu và phụ gia có nguồn gốc, 24% cơ sở dùng phụ gia không rõ nguồn gốc.
- Châu Ngọc Tâm (2011) tại Ninh Kiều, Cần Thơ: 93,4% cơ sở dùng nguyên liệu có nguồn gốc và không dùng PGTP ngoài danh mục.
- Nguyễn Thanh Hương (2012) tại Quảng Bình: 25,8% mẫu có phẩm màu kiềm (33,3% ở nhóm thịt quay/nướng), 37,1% mẫu có hàn the (78,5% mẫu chả, 65,4% mẫu nem, 18,4% mẫu bánh).
- Nguyễn Văn Nin (2012) tại Hồng Dân, Bạc Liêu: 13,4% cơ sở dùng hàn the (44,0% mẫu giò chả, 16,1% mẫu hủ tiếu, 1,4% mẫu bún).
- Đoàn Văn Tiến (2012) tại Tam Bình, Vĩnh Long: 100% hộ thức ăn đường phố dùng PGTP trong danh mục.
- Nguyễn Văn Đông (2013) tại Mỏ Cày Nam, Bến Tre: 88,58% cơ sở dùng nguyên liệu, PGTP có nguồn gốc.
- Hoàng Văn Thành (2014) tại Vĩnh Long: trước can thiệp có 45% mẫu có hàn the và 37,7% mẫu có phẩm màu kiềm; sau can thiệp giảm còn 9,3% mẫu có hàn the và 7,6% mẫu có phẩm màu kiềm.
- Nguyễn Thanh Giang (2015) tại Hậu Giang: 23,65% mẫu có hàn the (31,7% nem bì, 28,9% chả giò/chả lụa/chả huế/pate/lạp xưởng, 21,4% bún/hủ tiếu/phở, 16,5% mì sợi tươi, 9,4% tàu hũ, 8,6% thịt quay).
- Lê Long Hồ (2016) tại Cần Thơ: 85% cơ sở bếp ăn tập thể biết quy định nguồn gốc phụ gia, 4,7% mẫu có hàn the (18,2% ở mẫu chả).
- Cao Thị Hoa và cộng sự tại Hà Nội: can thiệp nâng cao thực thi pháp luật giúp 100% cơ sở tuân thủ quy định bảo quản PGTP, 100% cơ sở có hóa đơn nhập hàng (hiệu quả can thiệp 47,7%, $p < 0,01$), 96,6% có giấy kiểm dịch thú y (hiệu quả can thiệp 9,4%, $p < 0,05$), 100% mẫu âm tính với hàn the và các vi khuẩn gây bệnh (Salmonella, Shigella, E. coli, S. aureus).
Vị trí của luận án: Luận án kế thừa các nghiên cứu dịch tễ học và các mô hình can thiệp trước đó (như mô hình của Nguyễn Thị Thanh Hương tại Quảng Bình và Hoàng Văn Thành tại Vĩnh Long), tập trung giải quyết khoảng trống thực tiễn tại vùng cực Nam đất nước (Cà Mau) – nơi có đặc thù phân bố các làng nghề ẩm thực truyền thống (làm nem, chả, bún, bánh) cung ứng cho toàn tỉnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung pháp lý
Luận án vận dụng các khái niệm và quy định pháp lý chuyên ngành an toàn thực phẩm từ Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12, Thông tư số 27/2012/TT-BYT, Thông tư số 08/2015/TT-BYT và Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-BYT của Bộ Y tế về quản lý phụ gia thực phẩm:
- Cơ sở kinh doanh thực phẩm (KDTP): Cơ sở chế biến thức ăn gồm cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín, nhà hàng ăn uống, suất ăn sẵn, căng tin, bếp ăn tập thể.
- Cơ sở chế biến thực phẩm (CBTP): Cơ sở xử lý, chế biến thực phẩm để tạo thành nguyên liệu hoặc sản phẩm bán ra thị trường.
- Phụ gia thực phẩm (PGTP): Chất được chủ định đưa vào thực phẩm trong quá trình sản xuất, có hoặc không có giá trị dinh dưỡng, nhằm giữ hoặc cải thiện đặc tính của thực phẩm. Hiện Bộ Y tế cho phép sử dụng khoảng 400 loại PGTP thuộc 23 nhóm chức năng theo phân loại của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (CAC).
- Hàn the (Borax): Tên khoa học là sodium tetraborate ($Na_2B_4O_7 \cdot 10H_2O$, khối lượng phân tử 201,22), bột kết tinh trắng đục, tan ít trong nước lạnh, tan nhiều trong nước nóng. Khi tan trong nước hoặc môi trường ẩm, hàn the bị thủy phân tạo ra acid boric theo phản ứng:
$$Na_2B_4O_7 + 7H_2O = 4H_3BO_3 + 2NaOH$$
Trong công nghiệp, hàn the được điều chế từ khoáng poliborat:
$$2Ca_2B_6O_{11} + 4Na_2CO_3 + H_2O = 3Na_2B_4O_7 + 4CaCO_3 + 2NaOH$$
hoặc từ phản ứng:
$$Mg_3B_8O_{15} + 6HCl + 9H_2O = 8H_3BO_3 + 3MgCl_2$$
$$4H_3BO_3 + 2NaOH = Na_2B_4O_7 + 7H_2O$$
Về độc tính: Sau khi vào cơ thể, 81% hàn the đào thải qua nước tiểu, 3% qua mồ hôi, 1% qua phân, còn 15% tích lũy kéo dài ở não, gan, tim, phổi, dạ dày, thận, ruột. Liều dùng 4 – 5g acid boric/ngày gây kém ăn, khó chịu toàn thân; liều 0,5g/ngày duy trì trong 50 ngày gây ngộ độc tích lũy mạn tính. Do đó, Bộ Y tế cấm hoàn toàn hàn the trong CBTP.
- Phẩm màu thực phẩm: Phân loại theo tính chất gồm phẩm màu kiềm, phẩm màu acid và phẩm màu trung tính (trong đó phẩm màu kiềm có độc tính cao, có khả năng gây ung thư, đột biến gen như Auramine O, đỏ Scarlete, Sudan III nên bị cấm tuyệt đối). Phân loại theo nguồn gốc gồm phẩm màu vô cơ, phẩm màu tự nhiên (Curcumin trong nghệ, Chlorophyll, Carotenoid) và phẩm màu tổng hợp (vàng Tartrazin, xanh Brilliant FCF, vàng Sunset FCF). Phẩm màu tổng hợp được phép sử dụng phải có độ tinh khiết tối thiểu 60% chất màu nguyên chất, không chứa kim loại độc hại (Cr, Se, U, Hg, Cd) hay hydrocacbon đa vòng.
Thiết kế nghiên cứu và công thức cỡ mẫu
Nghiên cứu kết hợp hai thiết kế dịch tễ học:
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang: Xác định tỷ lệ cơ sở và mẫu thực phẩm có hàn the, phẩm màu kiềm, khảo sát điểm KAP của chủ cơ sở và xác định các yếu tố liên quan.
- Nghiên cứu can thiệp không đối chứng: Đánh giá sự chuyển biến về KAP và tỷ lệ mẫu/cơ sở vi phạm sau 6 tháng can thiệp trên chính nhóm cơ sở có vi phạm trước đó.
Công thức tính cỡ mẫu điều tra cắt ngang:
$$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot \frac{p(1-p)}{d^2}$$
Với mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), độ chính xác mong muốn $d = 0,04$:
- Cỡ mẫu cơ sở nghiên cứu tỷ lệ hàn the: Với $p = 0,167$, tính được $n = 334$ cơ sở.
- Cỡ mẫu cơ sở nghiên cứu tỷ lệ phẩm màu: Với $p = 0,10$, tính được $n = 217$ cơ sở. Luận án chọn cỡ mẫu lớn hơn là $n = 334$ cơ sở; thực tế điều tra đạt 345 cơ sở.
- Cỡ mẫu thực phẩm test nhanh hàn the: Với $p = 0,193$, tính được $n = 374$ mẫu (thực tế kiểm tra 374 mẫu).
- Cỡ mẫu thực phẩm test nhanh phẩm màu: Với $p = 0,156$, tính được $n = 317$ mẫu (thực tế kiểm tra 345 mẫu). Tổng số mẫu kiểm tra thực tế đạt 719 mẫu.
Phương pháp chọn mẫu và phân nhóm thực phẩm
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn qua 2 bước:
- Bước 1 (Chọn địa bàn): Lựa chọn 3 địa bàn đặc trưng của tỉnh Cà Mau gồm TP Cà Mau, huyện Cái Nước và huyện Đầm Dơi.
- Bước 2 (Chọn cơ sở và mẫu): Lập danh sách cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm (bún, bánh từ bột gạo/mì, giò chả, nem, thịt quay/nướng, kem...) từ danh sách quản lý ATVSTP địa phương và chọn ngẫu nhiên các cơ sở đồng ý tham gia.
Mẫu thực phẩm kiểm tra nhanh được chia thành 6 nhóm chỉ định:
- Nhóm kiểm tra hàn the (tối thiểu 94 mẫu/nhóm): (1) Nhóm thịt và sản phẩm từ thịt; (2) Nhóm thủy hải sản và sản phẩm từ thủy hải sản; (3) Nhóm sản phẩm chế biến từ tinh bột; (4) Nhóm rau củ quả muối chua.
- Nhóm kiểm tra phẩm màu kiềm (tối thiểu 160 mẫu/nhóm): (5) Nhóm nước giải khát, bia, rượu; (6) Nhóm gia vị, nước chấm.
Công cụ thu thập dữ liệu và tiêu chuẩn đánh giá
- Công cụ kiểm tra nhanh hóa lý: Sử dụng Kit test nhanh hàn the BK 04 và Kit test nhanh phẩm màu thực phẩm CT 04 do Viện Kỹ thuật hóa sinh và Tài liệu nghiệp vụ – Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an sản xuất. Kết quả phân loại nhị phân: Âm tính (-) là đạt, Dương tính (+) là không đạt.
- Bộ câu hỏi phỏng vấn KAP: Cấu trúc gồm 4 phần (Thông tin chung; Kiến thức 37 câu; Thái độ 13 câu; Thực hành 27 câu).
- Kiến thức (tổng 37 điểm): Trả lời đúng được 1 điểm/câu. Đạt khi tổng điểm $\ge 65%$ ($\ge 24,05$ điểm); Không đạt khi $< 65%$.
- Thái độ (thang Likert 5 mức độ, tổng điểm từ 13 đến 65): Tích cực khi tổng điểm $\ge 65%$ ($\ge 42,25$ điểm); Không tích cực khi $< 65%$.
- Thực hành (tổng 27 điểm): Trả lời/thực hiện đúng được 1 điểm/câu. Đạt khi tổng điểm $\ge 65%$ ($\ge 17,55$ điểm); Không đạt khi $< 65%$.
Quy trình can thiệp và kiểm soát sai số
- Can thiệp triển khai trong 6 tháng đối với toàn bộ các cơ sở có mẫu dương tính với hàn the và/hoặc phẩm màu kiềm ở giai đoạn cắt ngang.
- Hoạt động can thiệp gồm 2 nhóm chính:
- Truyền thông giáo dục: Tư vấn trực tiếp, phát tờ rơi/áp phích, tổ chức 06 lớp tập huấn kiến thức ATVSTP và quản lý PGTP cho chủ cơ sở, phát sóng tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh và báo đài địa phương.
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Thành lập mỗi huyện/thành phố 01 đoàn thanh kiểm tra liên ngành, tần suất kiểm tra 2 tháng/lần, kiểm tra điều kiện vệ sinh, test nhanh tại chỗ và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
- Kiểm soát sai số: Điều tra viên là cán bộ chuyên môn ATVSTP được tập huấn chuẩn hóa kỹ thuật phỏng vấn, quan sát và thao tác kit test nhanh; chỉ phỏng vấn trực tiếp chủ cơ sở; lấy mẫu thực phẩm đại diện ngẫu nhiên trong lô hàng còn hạn sử dụng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về ATVSTP, định nghĩa và vai trò của PGTP trong công nghệ chế biến thực phẩm hiện đại, phân loại 23 nhóm phụ gia theo CAC và các quy định của Bộ Y tế Việt Nam. Tác giả phân tích chi tiết bản chất sinh hóa, công thức cấu tạo, phản ứng thủy phân và độc tính tích lũy của hàn the ($Na_2B_4O_7 \cdot 10H_2O$), cũng như độc tính gây ung thư, đột biến gen của các phẩm màu kiềm công nghiệp so với phẩm màu tự nhiên và phẩm màu tổng hợp được phép sử dụng. Chương 1 cũng tổng kết gánh nặng bệnh tật do thực phẩm ô nhiễm trên thế giới và tại Việt Nam, điểm lại các công trình nghiên cứu dịch tễ học của các tác giả trong nước tại nhiều tỉnh thành và phân tích các mô hình can thiệp kiểm soát phụ gia thực phẩm đã được ứng dụng thành công tại Quảng Bình, Vĩnh Long và Hà Nội.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết phương pháp luận nghiên cứu, bao gồm tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu (chủ cơ sở và sản phẩm thực phẩm tại TP Cà Mau, huyện Cái Nước, huyện Đầm Dơi). Tác giả mô tả chi tiết thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp can thiệp không đối chứng, công thức tính toán cỡ mẫu cho cơ sở và mẫu xét nghiệm, quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên 2 bước và phương pháp phân bổ mẫu trên 6 nhóm thực phẩm. Chương này công bố chi tiết quy trình kỹ thuật sử dụng Kit test nhanh BK 04 và CT 04 của Bộ Công an, cấu trúc bộ công cụ phỏng vấn KAP (37 câu kiến thức, 13 câu thái độ, 27 câu thực hành), thang điểm và ngưỡng cắt 65% để phân loại đạt/không đạt. Cuối cùng, chương 2 làm rõ quy trình tổ chức can thiệp (6 lớp tập huấn, truyền thông đại chúng, thanh tra liên ngành 2 tháng/lần) cùng các giải pháp kiểm soát sai số và quy chuẩn đạo đức nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu thực chứng thu thập được qua 34 bảng số liệu và 8 biểu đồ, tập trung vào 4 nhóm nội dung chính:
- Đặc điểm nhân khẩu học và tiếp cận thông tin của đối tượng: Tỷ lệ phân bố về giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn của chủ cơ sở chế biến, kinh doanh; tần suất nghe, mức độ hiểu và nguồn tiếp cận thông tin ATVSTP hiệu quả nhất.
- Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) và tỷ lệ sử dụng phụ gia cấm trước can thiệp: Điểm trung bình và tỷ lệ đạt yêu cầu về kiến thức, thái độ tích cực, thực hành đạt chuẩn ATVSTP; kết quả test nhanh tỷ lệ mẫu thực phẩm và số lượng cơ sở có sử dụng hàn the (theo 4 nhóm thực phẩm) và phẩm màu kiềm (theo 2 nhóm thực phẩm).
- Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng hàn the và phẩm màu: Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc sử dụng phụ gia cấm với điểm KAP, giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn, tần suất tiếp cận thông tin ATVSTP và tình trạng có giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP của cơ sở.
- Hiệu quả của mô hình can thiệp: Sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ đạt kiến thức, thái độ tích cực, thực hành đạt chuẩn của chủ cơ sở trước và sau 6 tháng can thiệp; so sánh tỷ lệ mẫu thực phẩm và số lượng cơ sở dương tính với hàn the và phẩm màu kiềm qua 2 đợt kiểm tra.
Chương 4: Bàn luận
Tác giả tiến hành phân tích sâu sắc và đối chiếu các phát hiện nghiên cứu tại Cà Mau với các công trình công bố trước đây trên phạm vi cả nước. Bàn luận tập trung vào sự chênh lệch giữa điểm kiến thức, thái độ và thực hành thực tế của chủ cơ sở; lý giải nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ dương tính cao với hàn the ở nhóm sản phẩm thịt (giò chả, nem) và phẩm màu kiềm ở nhóm thực phẩm chế biến sẵn do thói quen sản xuất truyền thống và áp lực lợi nhuận. Chương này cũng phân tích cơ chế tác động của các yếu tố nhân khẩu học (học vấn, độ tuổi) và quản lý nhà nước (tập huấn, cấp giấy chứng nhận ATTP) đến hành vi sử dụng phụ gia, đồng thời đánh giá hiệu lực của mô hình can thiệp đa thành tố (kết hợp truyền thông giáo dục với thanh tra, xử phạt định kỳ 2 tháng/lần) trong việc làm giảm tỷ lệ vi phạm phụ gia cấm tại địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Kết quả chính của nghiên cứu
Luận án đã lượng hóa các chỉ số quan trọng về thực trạng và hiệu quả can thiệp kiểm soát phụ gia cấm tại tỉnh Cà Mau:
- Thiết lập bộ dữ liệu thực chứng về tỷ lệ hiện mắc vi phạm hàn the và phẩm màu kiềm trên 345 cơ sở kinh doanh, chế biến và 719 lượt mẫu thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng nguy cơ cao.
- Xác định mối liên quan giữa hành vi vi phạm sử dụng phụ gia cấm với trình độ học vấn, tần suất tiếp cận truyền thông, việc được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP và điểm số KAP của chủ cơ sở.
- Chứng minh hiệu quả rõ rệt của mô hình can thiệp kết hợp truyền thông giáo dục với thanh tra, kiểm tra liên ngành định kỳ (2 tháng/lần) sau 6 tháng thực hiện: nâng cao tỷ lệ đạt kiến thức, thái độ tích cực và thực hành đúng của chủ cơ sở, đồng thời làm giảm số lượng cơ sở và tỷ lệ mẫu thực phẩm dương tính với hàn the và phẩm màu kiềm.
| Thông số nghiên cứu |
Quy mô tính toán lý thuyết |
Quy mô thực hiện thực tế |
Phương pháp / Công cụ đánh giá |
| Cơ sở CBTP & KDTP |
$n = 334$ cơ sở |
345 cơ sở |
Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn 2 bước tại 3 địa bàn |
| Mẫu test nhanh hàn the |
$n = 374$ mẫu |
374 mẫu |
Kit test nhanh BK 04 (Bộ Công an) trên 4 nhóm thực phẩm |
| Mẫu test nhanh phẩm màu |
$n = 317$ mẫu |
345 mẫu |
Kit test nhanh CT 04 (Bộ Công an) trên 2 nhóm thực phẩm |
| Đo lường KAP chủ cơ sở |
Ngưỡng đạt $\ge 65%$ điểm |
345 chủ cơ sở |
Bộ câu hỏi phỏng vấn chuẩn hóa (37 KT - 13 TĐ - 27 TH) |
| Thời gian can thiệp |
6 tháng |
6 tháng can thiệp |
Truyền thông đa kênh + Thanh tra liên ngành 2 tháng/lần |
Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Đóng góp về phương pháp và quản lý: Cung cấp quy trình ứng dụng hiệu quả các bộ kít kiểm tra nhanh hóa lý (BK 04 và CT 04) tại tuyến y tế cơ sở nhằm sàng lọc và giám sát ATVSTP kịp thời, khắc phục hạn chế về thời gian và chi phí của các phương pháp xét nghiệm phòng thí nghiệm.
- Giải pháp đề xuất:
- Tăng cường tuyên truyền sâu rộng về tính độc hại của hàn the và phẩm màu kiềm, hướng dẫn cụ thể các chất phụ gia thay thế an toàn, hợp pháp cho các cơ sở sản xuất truyền thống.
- Duy trì hoạt động của các đoàn thanh tra, kiểm tra liên ngành định kỳ 2 tháng/lần, kết hợp kiểm tra nhanh tại chỗ với xử phạt nghiêm minh các trường hợp cố tình vi phạm.
- Đẩy mạnh công tác tập huấn, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP và giám sát nguồn gốc xuất xứ phụ gia lưu thông trên thị trường địa bàn tỉnh Cà Mau.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu sử dụng thiết kế can thiệp không đối chứng (so sánh trước - sau trên cùng một nhóm đối tượng vi phạm), do đó chưa loại trừ hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu ngoại cảnh tác động đồng thời trong thời gian can thiệp. Phương pháp kiểm tra nhanh bằng kít thử hóa lý mang tính định tính (dương tính/âm tính), chưa xác định được hàm lượng định lượng cụ thể của phụ gia trong từng mẫu thực phẩm như các kỹ thuật sắc ký phòng thí nghiệm. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 địa bàn đại diện (TP Cà Mau, Cái Nước, Đầm Dơi) nên chưa bao phủ toàn bộ 9 đơn vị hành chính của tỉnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Triển khai các nghiên cứu can thiệp có nhóm đối chứng song song trên quy mô toàn tỉnh; kết hợp kỹ thuật test nhanh sàng lọc với xét nghiệm sắc ký định lượng tồn dư hóa chất độc hại; mở rộng phạm vi đánh giá sang các phụ gia khác như chất tẩy trắng, formol, chất bảo quản tổng hợp (acid benzoic, acid sorbic) và theo dõi tính bền vững của can thiệp sau 12 đến 24 tháng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị cao đối với:
- Cán bộ quản lý y tế công cộng và Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm: Tham khảo quy trình tổ chức mô hình can thiệp kết hợp truyền thông với thanh tra liên ngành và cách thức vận hành mạng lưới giám sát test nhanh tại cơ sở.
- Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế công cộng, Dinh dưỡng và Vệ sinh an toàn thực phẩm: Tham khảo phương pháp thiết kế nghiên cứu dịch tễ học can thiệp, công thức tính cỡ mẫu, quy trình xây dựng và lượng hóa bộ công cụ đánh giá KAP chuẩn mực.
- Cơ sở đào tạo y dược: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm, quản lý phụ gia thực phẩm và kỹ thuật kiểm nghiệm nhanh tại cộng đồng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những công cụ kỹ thuật nào để kiểm tra nhanh hàn the và phẩm màu kiềm trong thực phẩm?
Luận án sử dụng trọn bộ Kit kiểm tra nhanh hàn the ký hiệu BK 04 và Kit kiểm tra nhanh phẩm màu trong thực phẩm ký hiệu CT 04 do Viện Kỹ thuật hóa sinh và Tài liệu nghiệp vụ – Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an sản xuất. Kết quả được đánh giá định tính: âm tính (-) là đạt tiêu chuẩn, dương tính (+) là không đạt tiêu chuẩn ATVSTP.
2. Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) của chủ cơ sở trong nghiên cứu được quy định như thế nào?
Luận án sử dụng ngưỡng cắt 65% tổng điểm tối đa cho từng cấu phần:
- Kiến thức (37 câu, tối đa 37 điểm): Đạt khi điểm $\ge 65%$ ($\ge 24,05$ điểm), Không đạt khi $< 65%$.
- Thái độ (13 câu theo thang đo Likert 5 mức độ quy đổi, điểm từ 13 đến 65): Tích cực khi điểm $\ge 65%$ ($\ge 42,25$ điểm), Không tích cực khi $< 65%$.
- Thực hành (27 câu, tối đa 27 điểm): Đạt khi điểm $\ge 65%$ ($\ge 17,55$ điểm), Không đạt khi $< 65%$.
3. Hoạt động can thiệp trong luận án được triển khai trên những đối tượng nào và gồm những nội dung gì?
Can thiệp được thực hiện trong 6 tháng trên toàn bộ các cơ sở có mẫu thực phẩm dương tính với hàn the hoặc phẩm màu kiềm ở giai đoạn điều tra cắt ngang. Hoạt động can thiệp gồm 2 nhóm: (1) Truyền thông giáo dục qua tư vấn trực tiếp, phát tờ rơi, 06 lớp tập huấn ATVSTP và tuyên truyền trên loa phát thanh, báo đài; (2) Tăng cường thanh tra, kiểm tra liên ngành với tần suất 2 tháng/lần, kiểm tra nhanh tại chỗ và xử lý nghiêm các vi phạm.
4. Cơ chế gây độc và mức độ nguy hại của hàn the đối với sức khỏe con người được luận án trình bày ra sao?
Hàn the ($Na_2B_4O_7 \cdot 10H_2O$) vào đường tiêu hóa thủy phân thành acid boric. Cơ thể đào thải 81% qua nước tiểu, 3% qua mồ hôi, 1% qua phân, nhưng giữ lại 15% tích lũy kéo dài ở mô não, gan, tim, phổi, thận. Người lớn dùng liều 4 – 5g acid boric/ngày gây kém ăn, khó chịu; liều 0,5g/ngày trong 50 ngày gây nhiễm độc mạn tính, rối loạn tiêu hóa và tổn thương chức năng gan, thận nghiêm trọng.
Kết luận
Luận án chuyên khoa cấp II của tác giả Tô Hiếu Liêm đã phản ánh toàn diện thực trạng sử dụng hàn the và phẩm màu kiềm trong chế biến, kinh doanh thực phẩm tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2017 – 2018. Công trình đã làm rõ mối liên hệ giữa các yếu tố nhân khẩu học, công tác quản lý với kiến thức, thái độ, thực hành của chủ cơ sở. Đồng thời, nghiên cứu khẳng định tính hiệu quả và khả thi của mô hình can thiệp kết hợp truyền thông giáo dục với thanh tra, kiểm tra định kỳ 2 tháng/lần bằng test nhanh hóa lý trong việc cải thiện hành vi ATVSTP và giảm thiểu nguy cơ phụ gia cấm trong thực phẩm cộng đồng.