Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về điều dưỡng và công tác chăm sóc người bệnh 1. Lịch sử ngành điều dưỡng thế giới Giữa thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ thứ 19, Florence Nightingale (1820-1910) một phụ nữ người Anh đã được thế giới tôn kính và suy tôn là người sáng lập ra ngành điều dưỡng. Nightingale đã lập ra hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh để thành lập trường đào tạo điều dưỡng đầu tiên ở nước Anh và cũng là trường điều dưỡng đầu tiên trên thế giới vào nǎm 1860.
Ðể tưởng nhớ công lao của bà và khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp mà Nightingale đã dày công xây dựng, Hội đồng điều dưỡng thế giới đã quyết định lấy ngày 12 tháng 5 (ngày sinh của Nightingale) làm ngày điều dưỡng quốc tế [25]. Lịch sử ngành điều dưỡng Việt Nam Tại Việt Nam, sự du nhập của nền Y học phương Tây bắt đầu từ thời kỳ Pháp thuộc đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, các lớp điều dưỡng sơ học được mở nhằm đáp ứng nhu cầu cho kháng chiến. Năm 1975, Bộ Y tế đã thống nhất chỉ đạo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong cả nước [29]. Ngày 26 tháng 10 nǎm 1990, Hội Điều dưỡng Việt Nam được thành lập tại Hội trường Ba Đình lịch sử, đánh dấu bước trưởng thành của nghề điều dưỡng tại Việt Nam.
Sự hoạt động của Hội đã góp phần động viên đội ngũ điều dưỡng thêm yêu nghề nghiệp và thúc đẩy công tác chǎm sóc tại các cơ sở khám bệnh, làm chuyển đổi một phần bộ mặt chǎm sóc điều dưỡng [25]. Đến nay, nghề điều dưỡng đã có hệ thống tổ chức, đào tạo nghề ở các bậc từ sơ học đến đại học và sau đại học, có luật hành nghề và đạo đức hành nghề [29]. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Điều 2, Thông tư 07/2011/TT-BYT ghi rõ: “CSNB trong bệnh viện bao gồm sự hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi NB nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho NB” [8].
Khái niệm về chăm sóc điều dưỡng Trong lĩnh vực chăm sóc điều dưỡng chương 2, tài liệu hướng dẫn đánh giá chất lượng CSNB trong các bệnh viện của Hội Điều dưỡng Việt Nam ghi rõ: “Chăm sóc điều dưỡng là những chăm sóc chuyên môn của người điều dưỡng đối với NB từ khi vào viện cho tới lúc ra viện. Nội dung chính bao gồm: chăm sóc thể chất, tinh thần, dinh dưỡng, lập kế hoạch chăm sóc, theo dõi, sử dụng thuốc, phục hồi chức năng, giáo dục sức khỏe (GDSK) cho NB. Chăm sóc điều dưỡng bắt đầu từ lúc NB đến khám, vào viện và cho đến khi NB ra viện hoặc tử vong” [8]. Định nghĩa về điều dưỡng Định nghĩa của Hội Điều dưỡng Mỹ (1965): Điều dưỡng là một nghề hỗ trợ cung cấp các dịch vụ chăm sóc, đóng góp vào việc hồi phục và nâng cao sức khỏe.
Định nghĩa này là cơ sở để đưa ra quy trình điều dưỡng mà hiện nay được áp dụng tại rất nhiều nước trên thế giới. Theo quyết định số 41/2005/QĐ-BNV, ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội vụ: Điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế [4]. Điều dưỡng là chăm sóc, hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc phục hồi sức khỏe của NB hoặc người khỏe [7]. Phân cấp chăm sóc người bệnh NB cần chăm sóc cấp I là NB nặng, nguy kịch, hôn mê, suy hô hấp, suy tuần hoàn, phải nằm bất động và yêu cầu có sự theo dõi, chăm sóc toàn diện và liên tục của ĐDV; NB cần chăm sóc cấp II là NB có những khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện các hoạt động hằng ngày và cần sự theo dõi, hỗ trợ của ĐDV; NB cần chăm sóc cấp III là NB tự thực hiện được các hoạt động hằng ngày và cần sự hướng dẫn chăm sóc của ĐDV [8].
Thủ thuật xâm lấn và thủ thuật không xâm lấn Thủ thuật xâm lấn: thủ thuật có đưa dụng cụ gây xuyên/làm rách da hoặc vào một khoang/ tổ chức trong cơ thể [16]. 6 Thủ thuật không xâm lấn: thủ thuật không gây xuyên cơ học cũng như không gây rách da hoặc một khoang trong cơ thể, nghĩa là nó không gây rách trong cơ thể hoặc không làm mất các tổ chức sinh học cơ thể [16]. Vai trò, chức năng của người điều dưỡng Người điều dưỡng có ba chức năng: Chức năng phụ thuộc là thực hiện các chỉ định điều trị của bác sĩ. Chức năng phối hợp là phối hợp với bác sĩ và các nhân viên y tế khác trong chăm sóc người bệnh.
Chức năng chủ động là chủ động chăm sóc người bệnh theo nhiệm vụ đã quy định [7]. Vai trò, chức năng chủ yếu của người điều dưỡng như sau: Người chăm sóc: là người thúc đẩy giao tiếp, hỗ trợ NB bằng hành động và bằng thái độ biểu thị sự quan tâm tới lợi ích của NB và chấp nhận NB là một con người. Mọi máy móc và kỹ thuật hiện đại không thể thay thế được người điều dưỡng. Chăm sóc là nền tảng của mọi can thiệp điều dưỡng và là một thuộc tính cơ bản của người điều dưỡng [6].
Người truyền đạt thông tin: là người thông tin với đồng nghiệp và các thành viên khác trong nhóm chăm sóc về kế hoạch và thực hiện kế hoạch chăm sóc cho mỗi NB. Mỗi khi thực hiện một can thiệp về chăm sóc, người điều dưỡng ghi chép vào hồ sơ những nhận xét và những thủ thuật đã được thực hiện cũng như mọi sự đáp ứng của NB. Người điều dưỡng thường xuyên giao tiếp cả bằng lời và bằng ngôn ngữ viết mỗi khi bàn giao ca, mỗi khi chuyển NB tới một khoa khác hoặc khi NB ra viện hay chuyển tới một cơ sở y tế khác [6]. Người giáo viên: Ngày nay, người ta chú trọng nhiều tới việc nâng cao và duy trì sức khỏe hơn là chỉ chữa bệnh thuần túy.
Vì vậy, NB cần có thêm kiến thức để tự theo dõi và chăm sóc nhằm rút ngắn ngày nằm viện. Sự gia tăng của các bệnh mãn tính và tật nguyền đỏi hỏi NB và gia đình phải có thêm kiến thức và kỹ năng để tự chăm sóc tại nhà và người điều dưỡng cũng có trách nhiệm quan trong trong cung cấp kiến thức và kỹ năng CSSK cho NB [6]. Người tư vấn: Là người giúp đỡ người bệnh để nhận biết và đương đầu với những strees về tâm lý hoặc những vấn đề xã hội, để cải thiện các mối quan hệ giữa người với người để thúc đẩy sự phát triển của mỗi người. Tư vấn liên quan 7 tới sự hỗ trợ về tình cảm, tri thức và tâm lý.
Người điều dưỡng tập trung vào giúp cho NB phát triển những thái độ, tình cảm và các hành vi mới hơn là thúc đẩy sự phát triển về trí tuệ. Người điều dưỡng khuyến khích NB tìm kiếm những hành vi thay thế, nhận ra sự lựa chọn và xây dựng ý thức tự kiểm soát. Tư vấn có thể thực hiện với một cá thể hoặc một nhóm người. Người điều dưỡng phải có kỹ năng để phân tích tình hình, tổng hợp thông tin và đánh giá quá trình phát triển của NB sau khi đã được tư vấn.
Người điều dưỡng phải là một mô hình mẫu để hướng dẫn những hành vi mong muốn và phải thể hiện sự quan tâm đến lợi ích của người khác, phải có suy nghĩ sáng tạo và thái độ linh hoạt, hài hước khi tiếp xúc với các đối tượng khác nhau [6]. Người biện hộ cho NB: Biện hộ nghĩa là hành động thay mặt hoặc bảo vệ quyền lợi cho người khác. Vì vậy, người điều dưỡng cần thúc đẩy những hành động tốt đẹp nhất cho NB, bảo đảm cho những nhu cầu của NB được đáp ứng [6]. Nhiệm vụ của điều dưỡng Ngày 20 tháng 01 năm 2011, Bộ Y tế đã có quy định mới nhất về nhiệm vụ của ĐDV, hộ sinh viên về công tác CSNB trong bệnh viện với 12 nhiệm vụ cụ thể là: (1) Tư vấn, hướng dẫn GDSK; (2) Chăm sóc về tinh thần; (3) Chăm sóc vệ sinh cá nhân; (4) Chăm sóc dinh dưỡng; (5) Chăm sóc phục hồi chức năng (PHCN); (6) Chăm sóc NB có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật; (7) Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho NB; (8) Chăm sóc NB giai đoạn hấp hối và NB tử vong; (9) Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng; (10) Theo dõi, đánh giá NB; (11) Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc NB; (12) Ghi chép hồ sơ bệnh án [8].
Các văn bản pháp lý liên quan đến công tác CSNB trong bệnh viện Trước đây, chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng là thực hiện y lệnh, phụ thuộc vào chỉ định của bác sĩ nên công tác chăm sóc của điều dưỡng chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản của NB. Hầu hết công tác chăm sóc cơ bản cho NB được người nhà NB đảm nhiệm. Năm 2003, Chỉ thị 05/2003/CT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế đã yêu cầu mọi cán bộ y tế đều có trách nhiệm thực hiện CSNB toàn diện, các bệnh viện phải tăng cường công tác CSNB toàn diện [5]. 8 Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua quy định các quyền và nghĩa vụ của NB.
Trong đó, “Quyền được khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế” được quy định tại Điều 7: (1) Được tư vấn, giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với bệnh; (2) Được điều trị bằng phương pháp an toàn, hợp lý và có hiệu quả theo các quy định chuyên môn kỹ thuật [24]. Ngày 26 tháng 11 năm 2011, Bộ Y tế ban hành Thông tư 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2011, thay thế Quy chế CSNB toàn diện trong Quy chế bệnh viện ban hành kèm theo Quyết định số 1895/1997/BYT-QĐ ngày 19/9/1997 [8]. Thông tư này là sự cập nhật phù hợp giữa các văn bản pháp luật, tình hình thực tế, nâng cao vị thế nghề nghiệp, đặt công tác điều dưỡng trong mối quan hệ mang tính hệ thống, quy định cụ thể về nhiệm vụ chăm sóc nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng chăm sóc ngày càng cao.