ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xƣa đến nay, tôn chỉ của mọi tôn giáo đều có một điểm chung là tinh thần cứu khổ, cứu nạn, mang lại cuộc sống an lành, hạnh phúc cho tất cả mọi ngƣời (1). Các quy định quản lý nhà nƣớc (QLNN) về tôn giáo cũng nhấn mạnh, các tổ chức tôn giáo đƣợc tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan (2,3). Do đó, những năm gần đây, các tôn giáo ở nƣớc ta ngày càng có xu hƣớng hòa nhập vào đời sống kinh tế xã hội của nhân dân và của cộng đồng, quan tâm trực tiếp đến đời sống hàng ngày của nguời dân bằng những việc làm cụ thể qua công tác từ thiện xã hội. Các số liệu thống kê chƣa đầy đủ cho thấy, từ năm 2010, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam đã có 1.076 cơ sở từ thiện (gồm khoảng 200 cơ sở khám chữa bệnh (KCB) y học cổ truyền (YHCT) Tuệ Tĩnh đƣờng, 655 phòng chẩn trị Y học Dân tộc), Giáo hội Công giáo có 1.041 cơ sở từ thiện nhân đạo (gồm 189 cơ sở KCB), Tịnh độ cƣ sĩ Phật hội có 223 hội quán là 223 phòng thuốc nam Phƣớc Thiện ở 21 tỉnh, thành phố (TP); với gần 1,5 triệu tín đồ, 4.800 chức sắc, chức việc, 350.000 hội viên; gần 900 lƣơng y, huấn viên y khoa, y sĩ, y sinh; trên 3.000 ngƣời làm công việc chế biến thuốc… (1,4).
Số liệu trên cho thấy, lĩnh vực y tế chiếm vai trò chủ đạo trong công tác từ thiện xã hội của các tổ chức tôn giáo, đặc biệt là hoạt động lập cơ sở KCB, cấp phát thuốc YHCT miễn phí cho ngƣời nghèo. Các cơ sở KCB nhân đạo bằng YHCT này đã phát triển ở quy mô đáng kể nếu so sánh với hệ thống các cơ sở KCB YHCT công lập, tuy nhiên cũng đặt ra nhiều vấn đề về công tác QLNN đối với khu vực này. Thông tin từ các hoạt động giám sát của một số cơ quan QLNN về y tế cho thấy nhiều vấn đề bất cập trong việc tuân thủ các quy định hiện hành tại các cơ sở/tổ chức KCB nhân đạo bằng YHCT. Đặc biệt là các vấn đề trong tuân thủ các quy định về trình độ chuyên môn, về chứng chỉ hành nghề, công tác đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn của những ngƣời cung cấp dịch vụ.
Ngoài ra, nhiều vấn đề khác về quy trình chuyên môn kỹ thuật, chất lƣợng dƣợc liệu, chất lƣợng thuốc YHCT, quản lý nhân lực tại cơ sở, các hoạt động biến tƣớng, giả danh hoạt động KCB nhân đạo để trục lợi… đều cần xem xét cụ thể, có những số liệu và thông tin rõ ràng để từ đó có các giải pháp quản lý phù hợp (5,6). Tây Ninh là một trong những tỉnh có tỷ lệ ngƣời dân theo đạo cao nhất cả nƣớc, chiếm 69% dân số. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 05 tôn giáo chính với tổng số tín đồ 2 khoảng 757.932 ngƣời và khoảng 298 cơ sở thờ tự. Những năm qua, công tác đào tạo, bồi dƣỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo và công tác QLNN về tôn giáo trên địa bàn tỉnh đƣợc chú trọng thực hiện, góp phần giải quyết kịp thời nhu cầu sinh hoạt tôn giáo chính đáng của tổ chức, cá nhân chức sắc nhà tu hành các tôn giáo (7).
Tuy nhiên, nhƣ nhiều tỉnh thành khác trong cả nƣớc, số liệu về thực trạng và báo cáo về công tác QLNN đối với hoạt động KCB nhân đạo nói chung và KCB nhân đạo bằng YHCT nói riêng của các tổ chức tôn giáo tại Tây Ninh rất hạn chế. Bên cạnh những vấn đề chung về hệ thống quản lý công tác KCB và quản lý chuyên môn trong cung cấp dịch vụ, hành nghề KCB, những hiện tƣợng phát sinh trong thời gian gần đây nhƣ lợi dụng KCB nhân đạo để bán thực phẩm chức năng, bán trang thiết bị y tế chất lƣợng thấp hoặc chiêu trò khám bệnh miễn phí, nhƣng kê đơn bán thuốc với giá đắt gấp nhiều lần giá trị thực tế,… cũng đặt ra thách thức lớn cho các đơn vị QLNN các cấp của tỉnh và ảnh hƣởng đến niềm tin của cộng đồng vào hiệu quả của các phƣơng pháp YHCT cũng nhƣ uy tín của các tổ chức tôn giáo (5,6). Trƣớc thực tế trên, học viên tiến hành luận văn với chủ đề “Thực trạng khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo bằng y học cổ truyền của các tổ chức tôn giáo tại tỉnh Tây Ninh năm 2020”. Luận văn sử dụng một phần số liệu từ nhiệm vụ đánh giá “Thực trạng khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền nhân đạo và hoạt động khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền của trạm y tế xã, phường ở một số tỉnh” của Viện Chiến lƣợc và Chính sách Y tế (CL&CSYT) và Cục Quản lý Y dƣợc cổ truyền (YDCT), tiến hành từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2020.
Trong nghiên cứu này, học viên đƣợc phân công làm Thƣ ký nhiệm vụ, hỗ trợ Chủ nhiệm nhiệm vụ trong tất cả các hoạt động chuyên môn và tài chính từ xây dựng đề cƣơng, bộ công cụ, triển khai nghiên cứu thực địa,… Hoạt động thu thập thông tin của nhiệm vụ và luận văn tại tỉnh Tây Ninh diễn ra trong tháng 06/2020. Các thông tin thu đƣợc từ các cuộc phỏng vấn sâu (PVS), thảo luận nhóm (TLN) và phiếu phát vấn đối với nhân viên y tế (NVYT) tại các cơ sở KCB nhân đạo bằng YHCT trong nghiên cứu đƣợc chọn lọc để sử dụng phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luận văn. Ngoài ra, luận văn bổ sung hoạt động phỏng vấn ngƣời sử dụng dịch vụ hoặc ngƣời nhà của ngƣời sử dụng dịch vụ KCB tại các cơ sở KCB nhân đạo bằng YHCT bằng phiếu hỏi định lƣợng với mong muốn làm rõ thực trạng hoạt động KCB YHCT của các tổ chức tôn giáo và yếu tố ảnh hƣởng từ phía ngƣời sử dụng dịch vụ tới hoạt động KCB YHCT của các tổ chức tôn giáo nêu trên. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả hoạt động khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo bằng y học cổ truyền của các tổ chức tôn giáo tại tỉnh Tây Ninh năm 2020. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng tới hoạt động khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo bằng y học cổ truyền của các tổ chức tôn giáo tại tỉnh Tây Ninh năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm, thuật ngữ 1.
Khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo Theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phƣơng pháp điều trị phù hợp đã đƣợc công nhận. Trong khi đó, chữa bệnh là việc sử dụng phƣơng pháp chuyên môn kỹ thuật đã đƣợc công nhận và thuốc đã đƣợc phép lƣu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho ngƣời bệnh (8). Tuy nhiên, định nghĩa trên chƣa bao quát hết các dịch vụ y tế theo cách tiếp cận chăm sóc toàn diện (bao gồm cả chăm sóc y tế và phi y tế). Đồng thời định nghĩa khám bệnh, chữa bệnh nhƣ trong Luật hiện nay cũng chƣa phù hợp vì việc thực hiện các dịch vụ cận lâm sàng (xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh…) thì không thuộc cả khám bệnh lẫn chữa bệnh.
Các hạn chế nêu trên hiện đang đƣợc đề xuất sửa đổi trong Dự thảo Luật KCB sửa đổi (9). Tiếp thu các phát hiện trên, trong nghiên cứu này, khái niệm khám bệnh, chữa bệnh đƣợc hiểu là tất cả các dịch vụ y tế phát sinh trong quá trình ngƣời bệnh sử dụng dịch vụ tại cơ sở y tế (CSYT) nhằm khắc phục một vấn đề sức khỏe, bao gồm cả nội hàm khái niệm đƣợc đề cập trong Luật KCB 2009 và các nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung. Trong khi đó, theo Thông tƣ số 30/2014/TT-BYT của Bộ Y tế, KCB từ thiện/nhân đạo là hoạt động KCB, cấp phát thuốc miễn phí hoàn toàn cho ngƣời bệnh (10). Đến nay, Thông tƣ trên vẫn là văn bản quy phạm duy nhất quy định về vấn đề này.
Tuy vậy, trong thực tế, một số hoạt động KCB không miễn phí hoàn toàn vẫn đang diễn ra và vẫn mang nội hàm của hoạt động từ thiện/nhân đạo nhƣ miễn phí khám, tƣ vấn sức khỏe ban đầu nhƣng vẫn phải trả tiền thuốc; miễn phí/hỗ trợ hoàn toàn chi phí điều trị trong một liệu trình/giai đoạn và thu phí ở các liệu trình sau… Trƣớc thực tế trên, nhằm tìm hiểu những bất cập có thể có nhân danh hoạt động KCB nhân đạo, nghiên cứu xác định phạm vi KCB nhân đạo là hoạt động KCB và cấp phát thuốc miễn phí hoàn toàn hoặc miễn phí một phần cho người bệnh. Cách hiểu này cũng phù hợp với quan điểm về nhân đạo/từ thiện trên thế giới. Trên thế giới hai thuật ngữ về nhân đạo, từ thiện đƣợc sử dụng phổ biến là “humane” và “charity” (11,12,13,14). Thuật ngữ “humane” thƣờng đƣợc sử dụng theo nghĩa nhân đạo trong khi “charity” đƣợc dùng phổ biến với nghĩa từ thiện.
Theo nghĩa rộng, nhân đạo hay từ 5 thiện đều đƣợc hiểu là những cam kết lâu dài, tự nguyện vì lợi ích cộng đồng thông qua việc giải quyết các nguyên nhân sâu xa gây ra các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề sức khỏe (15). Dịch vụ y tế nhân đạo/từ thiện là dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) đƣợc cung cấp miễn phí hoặc giảm giá cho bệnh nhân có thu nhập thấp (12,14). Y học cổ truyền và khám chữa bệnh nhân đạo bằng y học cổ truyền Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), “YHCT là tổng hợp các tri thức, kỹ năng và thực hành trên cơ sở những lý thuyết, đức tin và kinh nghiệm bản địa của những nền văn hóa khác nhau, dù đã được giải thích hay chưa nhưng được sử dụng để duy trì sức khỏe cũng như để giúp người bệnh chẩn đoán, cải thiện hoặc điều trị tình trạng ốm đau về thể xác hoặc tinh thần”. Một số thuật ngữ khác đƣợc dùng thay thế khái niệm YHCT ở nhiều quốc gia là “Y học bổ sung” (YHBS) hay “Y học thay thế” (16).
Tại Việt Nam, một số địa phƣơng sử dụng các thuật ngữ nhƣ “Đông Y”, “Thuốc Nam”, “Thuốc Bắc”,… để chỉ các phƣơng pháp chẩn đoán, điều trị bằng YHCT. Việc sử dụng các thuật ngữ này tùy vào từng quốc gia, vùng miền và quan điểm từng ngƣời tuy nhiên đều để chỉ nội hàm về sản phẩm, thực hành và ngƣời hành nghề YHCT. Kết hợp với khái niệm KCB nhân đạo ở Mục 1.