ĐẶT VẤN ĐỀ Vị thành niên là thời đẹp nhất của cuộc đời. Dậy thì là mốc đánh dấu một khởi đầu của tuổi vị thành niên. Tuổi dậy thì ở các em thường là 8-13 tuổi đối với nữ, với các em nam là từ 10-14 tuổi, tuy nhiên điểm kết thúc lại khác nhau tuỳ thuộc vào các nhân tố: cá tính, gia đình, xã hội và văn hoá. Đây là một giai đoạn có sự thay đổi nhanh và mạnh cả về tâm lý và sinh lý, đồng thời chứa đựng những thay đổi sâu sắc trong các mối quan hệ xã hội lẫn cá tính.
Theo thống kê của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, năm 2018, trong tổng số 8.290 ca nạo hút thai có 130 ca nạo hút thai ở lứa tuổi vị thành niên, 9 tháng năm 2019 có 97 ca nạo hút thai ở lứa tuổi vị thành niên trong tổng số 7.236 ca nạo hút thai [35]. Đây chỉ là con số nhỏ so với thực tế bởi còn rất nhiều vị thành niên tìm đến các phòng khám, dịch vụ tư nhân để nạo hút thai. Bên cạnh đó, các kiến thức, kỹ năng cơ bản về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên/thanh niên còn nhiều hạn chế; giáo dục về sức khỏe sinh sản chưa tiếp cận được ở diện rộng; việc cung cấp thông tin, dịch vụ thân thiện về sức khỏe sinh sản chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của vị thành niên/thanh niên. Điều này phản ánh công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên/thanh niên vẫn còn nhiều khoảng trống.
Việc vị thành niên thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản, về giới tính cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến số vụ xâm hại tình dục gia tăng [36]. Theo thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình, trong giai đoạn 2011 - 2014, toàn tỉnh có 41 trẻ bị xâm hại tình dục, đến giai đoạn 2015 - 6/2019, số trẻ bị xâm hại tình dục lên đến 52 trẻ. Trẻ bị xâm hại tình dục đều là nữ và ở độ tuổi chủ yếu từ 13-16 tuổi, trong đó có một trường hợp bị xâm hại và mang thai ở tuổi 13 (năm 2012). Với những đặc điểm này, tuổi vị thành niên liên tục đối mặt với những thách thức cũng như nguy cơ [44].
Tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình có 49 trường Trung cơ sở tại địa bàn 48 xã, thị trấn, với tổng số 11.852 em học sinh. Các em học sinh theo học tại các trường này đều nằm trong lứa tuổi vị thành niên. Công tác phối hợp với Trung tâm Y tế truyền thông ngoại khóa, giáo dục giới tính và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Thang Long University Library 2 huyện Thái Thụy tuy đã được triển khai từ rất sớm nhưng vẫn còn nhiều bất cập do đây là một công việc phức tạp và tế nhị cùng với quan điểm của phụ huynh và Ban giám hiệu nhà trường là các em còn nhỏ, việc giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe sinh sản là sớm…vì vậy việc giáo dục giới tính chăm sóc sức khỏe sinh sản không chỉ đòi hỏi quan tâm của nghành y tế mà còn của cả xã hội cùng phối hợp thực hiện. Nhiều thống kê cho thấy có sự gia tăng rõ rệt các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản vị thành niên ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam nói chung và tại địa bàn huyện Thái Thụy nói riêng.
Tuy nhiên các nghiên cứu hầu như chỉ tập trung vào lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông hoặc sinh viên là độ tuổi đã dậy thì và đã hình thành các hành vi nguy cơ sức khỏe tình dục, mà ít có nghiên cứu về lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở từ 12-15 tuổi là lứa tuổi vừa bước vào tuổi dậy thì, các em còn bỡ ngỡ trước một thế giới kiến thức giới tính rộng lớn, rất dễ có những hiểu biết không đúng, có thái độ không phù hợp và hình thành hành vi nguy cơ đến sức khỏe của mình. Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên nói chung và của các học sinh theo học tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn của huyện nói riêng. Vấn đề đặt ra là kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh các trường trung học cơ sở huyện Thái Thụy như thế nào? Sự hiểu biết của các em về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, các biện pháp tránh thai, thái độ về vấn đề quan hệ tình dục ra sao? Nhu cầu của các em học sinh về thông tin, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của các em về sức khỏe sinh sản? Để trả lời một số câu hỏi đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài về “Kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh Trung học cơ sở Thụy Xuân, Thái Thụy, Thái Bình năm 2020” với hai mục tiêu: 1. Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của học sinh Trung học cơ sở Thụy Xuân, Thái Thụy, Thái Bình năm 2020.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của đối tượng nghiên cứu. TỔNG QUAN Tuổi vị thành niên ở mỗi nền văn hóa có những đặc điểm riêng nhưng nói chung còn bộc lộ tính phụ thuộc, sự khủng hoảng về nhân cách và hoang mang về tâm lý, các em đang muốn khám phá chính mình. Tuy trưởng thành về mặt cơ thể nhưng vị thành niên chưa được hoàn thiện nhân cách. Lứa tuổi này vẫn đang trong giai đoạn trẻ học tập ở nhà trường nhưng rất dễ bị ảnh hưởng những điều xấu từ xã hội.
Thay đổi rõ rệt nhất ở lứa tuổi vị thành niên là các vấn đề về sức khỏe sinh sản, bao gồm cả các biểu hiện về dậy thì. Bất cứ một vấn đề về sức khỏe và tâm lý trong giai đoạn này đều có thể ảnh hưởng và để lại hậu quả nặng nề cho cuộc sống về sau. Cùng với tăng trưởng, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa thách thức lớn đối với công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và sức khỏe vị thành niên, thanh niên nói riêng. Một số vấn đề sức khỏe vị thành niên quan trọng nhất hiện nay là: tình trạng dậy thì sớm, quan hệ tình dục trước hôn nhân, có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, tảo hôn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở lứa tuổi vị thành niên để lại hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và tinh thần cũng như tương lại của vị thành niên.
Sơ lược về tuổi vị thành niên, sức khỏe sinh sản vị thành niên 1. Một số khái niệm * Vị thành niên: là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn. Độ tuổi vị thành niên là 10-19 tuổi (theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa). Lứa tuổi vị thành niên được chia thành 3 nhóm: Từ 10-13 tuổi là nhóm vị thành niên sớm; từ 14-16 tuổi là nhóm vị thành niên giữa; từ 17-19 tuổi là nhóm vị thành niên muộn [3], [4].
Tại Việt Nam quy định vị thành niên được xem là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi. Độ tuổi vị thành niên chia thành 3 giai đoạn: - Vị thành niên sớm: từ 10 đến 13 tuổi; - Vị thành niên giữa: từ 14 đến 16 tuổi; - Vị thành niên muộn: từ 17 đến 18 tuổi. Ba giai đoạn phân chia này chỉ có tính tương đối, có thể khác nhau ở từng VTN [3], [11]. Thang Long University Library 4 Ở tuổi vị thành niên, dưới tác dụng của hệ nội tiết, cơ thể trẻ em sẽ diễn ra hàng loạt những thay đổi về hình dáng, chức năng cơ quan sinh dục, tâm sinh lý, biết phân biệt rõ giới tính nam/nữ và bắt đầu có khả năng tình dục, khả năng sinh sản.
* Sức khỏe sinh sản Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển họp tại Cairo năm 1994 định nghĩa về sức khỏe sinh sản: “sức khỏe sinh sản là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó” [10], [44]. Sức khỏe sinh sản gồm các khía cạnh dưới đây: - Khía cạnh sức khỏe thể chất: ở nam và nữ giới có cơ thể khỏe mạnh; tất cả các cơ quan nằm trong hệ thống sinh sản đều không gặp các tổn thương hay khiếm khuyết. Đảm bảo được khả năng thực hiện quan hệ tình dục và chức năng sinh sản về sau. - Khía cạnh sức khỏe tinh thần: mỗi cá nhân cảm thấy khỏe khoắn; thoải mái về sức khỏe sinh sản và khả năng sinh lý của chính bản thân mình.
Có thể nhận ra được những điểm mạnh điểm yếu của bản thân; tự tin vào chính bản thân và khả năng của chính mình. - Sức khỏe xã hội: đảm bảo sự an toàn cho xã hội. Sống chan hòa và có mối quan hệ tốt với mọi người trong cộng đồng. * Sức khỏe sinh sản vị thành niên: “Là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến cấu tạo và hoạt động của bộ máy sinh sản ở tuổi vị thành niên, chứ không chỉ là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó”.
Những đặc điểm dậy thì ở tuổi vị thành niên, nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản và hạn chế tiếp cận các lĩnh vực sức khỏe sinh sản của vị thành niên Việt Nam 1. Những thay đổi về sinh lý ở tuổi vị thành niên • Với trẻ nữ - Về thời gian: Bắt đầu từ khi 8-13 tuổi, trung bình 15 tuổi và hoàn tất dậy 5 thì vào thời điểm trẻ được 13-18 tuổi; - Về phát triển cơ thể, dưới tác dụng của các hoocmon sinh dục: thay đổi ở vú (núm vú nhô lên rõ hơn, hình thành quầng vú và bầu vú, phát triển đầy đủ sau 18 tháng); phát triển xương chậu (khung chậu của nữ tròn hơn và rộng hơn khung chậu của nam); xương đùi, các mô mỡ phát triển hình thành đường cong cơ thể; phát triển chiều cao, cân nặng; bộ phận sinh dục phát triển (âm hộ, âm đạo to ra, tử cung và buồng trứng phát triển); buồng trứng thực hiện chức năng sinh sản bằng việc xuất hiện kinh nguyệt; - Về thay đổi sinh lý: bắt đầu xuất hiện kinh nguyệt.