MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lo âu là cảm xúc bình thường mà nhiều người thường trải qua trong cuộc sông của mình. Mỗi người trong chúng ta đều thỉnh thoảng cảm thấy lo âu, sợ hãi, căng thắng trong những tình huống quan trọng nhất định, chăng hạn như một kỳ thị, một cuộc phỏng vấn xin việc, một mối de doa trực tiếp, một số điều kiện làm việc nguy hiém,.Con người thường trải qua sự lo âu đơn giản như một phan của cuộc sông hàng ngày. Trong những tình huống bình thường, lo âu thực sự có lợi vì nó thúc đây chúng ta thực hiện nhiệm vụ và thích nghi với hoàn cảnh.
Đó là kết quả của một động lực sinh học tự nhiên để bảo tồn và duy trì sức khỏe. Tuy nhiên, khi sự lo âu đạt đến mức tiêu cực, nó có thé dẫn đến một kết quả bệnh lý. Rối loạn lo âu xảy ra khi cảm giác lo âu, sợ hãi và đau khổ trở nên quá lớn khiến một người không thể hoàn thành các hoạt động bình thường trong cuộc sống hoặc tận hưởng cuộc sống. Nó được biểu hiện băng các triệu chứng nhận thức (lo âu) và cơ thể (nhịp tim nhanh, đồ mồ hôi, run ray, chóng mặt, nhức đầu, ngất xiu,.) và hành vi tránh né,.
Rồi loạn lo âu bao gồm tối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn lo âu xã hội, rối loạn hoảng sợ, chứng sợ khoảng trống, chứng câm chọn lọc, rỗi loạn lo âu chia ly và rỗi loạn lo âu do chất/thuốc gây ra. Các rối loạn này có một đặc điểm chung là nỗi sợ hãi hoặc lo âu dai dăng và quá mức không tương xứng với tình huống. Rối loạn lo âu là một trong những rối loạn sức khỏe tâm thần xảy ra thường xuyên nhất ở tuổi trưởng thành (Kupfer, 2015) và thanh thiếu niên (Kessler và c., 2012), với tỷ lệ mắc bệnh suốt đời toàn cầu là 16% (Kessler, Aguilar-Gaxiola, Alonso, Chatterji, Lee, Ormel, và c. Trong một nghiên cứu có hệ thống về các rồi loạn tâm thần phổ biến ở 44 quốc gia, rỗi loạn lo âu ảnh hưởng tới 1 trên 14 người trên toàn cầu vào bất kỳ thời điểm nào (Baxter và c.
Trong hầu hết các trường hợp, rối loạn lo âu khởi phát ở tuôi thiếu niên hoặc đầu tuổi trưởng thành. Ngoài ra, rối loạn lo âu thường xảy ra đồng thời với các bệnh tâm thần khác hoặc bệnh lý cơ thể như rối loan tram cảm, rối loạn tiêu hóa (Dumitrescu và c. Lo âu quá mức có thể phá vỡ sự cân bằng trong cuộc sống cá nhân, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và làm phát sinh nhiều hệ quả tiêu cực khác. Vì vậy, việc xác định những cá nhân có nguy cơ cao và tiễn hành can thiệp là điều có ý nghĩa quan trọng với họ.
Từ mong muốn được hỗ trợ những cá nhân gặp vấn đề về lo âu và được rèn luyện, trau dồi dé trở thành một nhà tâm lý thực hành chuyên nghiệp, ca lâm sàng về rối loạn rối loạn lo âu là cơ hội giúp cho bản thân tôi có thé thực hành đạo đức nghé, nâng cao kiến thức cũng như học hỏi những kỹ năng cần thiết. Tôi tin rằng quá trình tiến hành luận văn một cách nghiêm túc của mình dưới sự giám sát và hướng dẫn của các thầy cô đã giúp tôi có những trải nghiệm quý báu trên con đường hỗ trợ những người có vấn đề sức khỏe tâm thần, đặc biệt có rối loạn lo âu. Chính vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Can thiệp tâm lý cho một trường hợp có biểu hiện rối loạn lo âu”. Mặc dù đây không phải là một đề tài quá mới mẻ nhưng tôi mong rằng nó sẽ giúp ích cho công việc và hoạt động can thiệp tâm lý của tôi trong hành trình trở thành nhà tâm lý.
Nhiệm vụ nghiên cứu - _ Tổng quan tai liệu, trình bày cơ sở lý luận về rối loan lo âu, các phương pháp đánh giá, chan đoán va can thiệp hỗ trợ tâm lý cho người có biéu hiện rối loạn lo âu. - Lam rõ vai trò và hiệu quả của can thiệp theo tiếp cận Nhận thức — Hành vi với người có rối loạn lo âu. - _ Đánh giá các biéu hiện rối loạn lo âu cho một trường hợp thực tế. - _ Hỗ trợ tâm lý nhằm giảm thiểu các biểu hiện của rối loan lo âu cho thân chủ - _ Đưa ra kết luận và khuyến nghị cho ca lâm sang.
CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ROI LOAN LO ÂU 1. Tổng quan nghiên cứu về rối loạn lo âu 1. Dịch té học Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thực hiện các cuộc khảo sát về sức khỏe tâm thần trên toàn quốc với các phương pháp tiêu chuẩn chung ở 28 quốc gia trên thế giới (Kessler, Aguilar-Gaxiola, Alonso, Chatterji, Lee, & Ustiin, 2009). 14 cuộc khảo sát về sức khỏe tâm thần đã được hoàn thành và kết quả của một loạt các nghiên cứu ban đầu đã chứng minh răng rối loạn lo âu phổ biến trong dân số nói chung.
Cùng với các rối loạn cảm xúc khác và rối loạn sử dụng chat gây nghiện, rồi loạn lo âu là những rối loạn tâm thần phổ biến nhất. Nghiên cứu cho thấy ám ảnh sợ đặc hiệu là dạng phụ thường gặp nhất của rối loạn lo âu, theo sau là ám ảnh sợ xã hội. Rối loạn lo âu ít phổ biến nhất là rối loan ám ảnh cưỡng chế (OCD). Cùng trong khảo sát này, tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã báo cáo răng, rối loạn lo âu xếp ở vị trí thứ sáu trong số tất cả các bệnh tâm thần trên toàn thế giới, va ở vi trí thứ tư ở các nước phát triển cao; do đó, rối loạn lo âu là một trong những bệnh mãn tính có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc sống của bệnh nhân.
Trong đó, ám ảnh sợ đặc hiệu là loại rỗi loạn lo âu phổ biến nhất. Theo Eisner và cộng sự (2010), rỗi loạn lo âu là loại bệnh tâm thần phô biến nhất ở liên minh Châu Âu, Thuy Sĩ, Iceland và Na Uy. Trong vòng 12 thang, sỐ lượng người dân gặp phải rối loạn lo âu là 14% và khoảng 61,5 triệu người bị ảnh hưởng, rối loạn này phô biến hơn bat kỳ bệnh tâm than nào khác ở những người ở Châu Âu từ 14 đến 65 tuôi (Eisner và c. Kết quả nghiên cứu của Stein và cộng sự (2017), rối loạn lo âu là rối loạn tâm thần phổ biến nhất (với tỷ lệ hiện mắc trên toàn thé giới hiện nay là 7,3% (Stein và c.
Trong các rỗi loạn lo âu, ám ảnh sợ đặc hiệu là phô biến nhất, với tỷ lệ 10,3%, sau đó là rối loạn hoảng sợ (có hoặc không có chứng sợ khoảng trống) với tỷ lệ 6,0%, tiếp theo là ám ảnh sợ xã hội (2,7%) và rối loạn lo âu lan tỏa (2,2%) (Thibaut, 2017, tr 87). Cho đến nay, các nghiên cứu trên thế giới vẫn chưa đủ cơ sở dé đưa ra kết luận liệu những rối loạn này có trở nên phổ biến hơn trong những thập kỷ gần đây hay không. Nhìn chung, rối loạn lo âu khởi phát tương đối sớm trong đời. Theo Michael và cộng sự (2007), trong 80-90% trường hợp, rối loạn biểu hiện trước 35 tuổi va khoảng thời gian từ 10 đến 25 tuổi đường như là giai đoạn có nguy cơ cao phát triển chứng rối loạn lo âu.
Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng ké gitta cac rỗi loạn lo âu liên quan đến tuổi khởi phát, cụ thé (Michael và c., 2007): e Am ảnh sợ đặc hiệu và ám ảnh xã hội thường bat dau từ thời thơ ấu hoặc đầu tuổi vị thành niên và nhìn chung khởi phát trước tuổi 20. e Rối loạn lo âu lan tỏa (GAD), rỗi loan hoảng sợ và chứng so khoảng trống thường phát triển vào cuối tuổi vị thành niên và đầu tuôi trưởng thành; khởi phát đầu tiên trung bình là từ 25 đến 30 tuổi. GAD là chứng rối loạn lo âu duy nhất cho thay tỷ lệ gia tăng ở người cao tudi. e OCD phát triển đặc trưng từ 15 đến 39 tuôi.
e Tuổi khởi phát của rối loan căng thắng sau sang chan (PTSD) đa dạng hon, vì nó phụ thuộc vào độ tuôi khi sang chấn xảy ra. Tỷ lệ mắc chứng rối loạn lo âu trong đời qua các thế hệ kế tiếp (xu hướng lâu dài) được dự đoàn là có sự gia tăng, tuy nhiên dữ liệu này vẫn chưa được xác nhận và cần được xem xét thêm. Khi xem xét sự khác biệt về giới tính, nghiên cứu của Bandelow và cộng sự (2017) cho thấy phụ nữ dễ bị rối loạn cảm xúc khởi phát ở tuổi vị thành niên; họ có khả năng mắc chứng rối loạn lo âu cao gấp 1,5 đến 2 lần so với nam giới (Bandelow và c. Nghiên cứu “The size and burden of mental disorders and other disorders of the brain in Europe 2010” thậm chí còn xác định phụ nữ bị ảnh hưởng bởi rồi loạn lo âu nhiều gap hai đến ba lần so với nam giới (Wittchen và c.
Nhìn chung, rối loan lo âu là một trong những bệnh tâm thần phổ biến nhất trên thế giới. Rối loạn lo âu ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của cá nhân và gây ra nhiều khó khăn trong công việc, học tập và giao tiếp. Rối loạn lo âu thường khởi phát ở tuổi trẻ và có sự khác biệt về tuổi khởi phát giữa từng rối loạn. Mức độ pho bién va tỷ lệ giới tinh giữa các dang rỗi loạn có sự khác biệt.
Phụ nữ có xu hướng mắc rối loạn lo âu nhiều hơn nam giới. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển rối loạn lo âu Rối loạn lo âu rất phức tạp, bị ảnh hưởng bởi sự kết hợp của các yếu tố di truyền và môi trường. Giống như hau hết các rối loạn tâm thần, ảnh hưởng di truyền là một trong những yếu tố nguy cơ được chứng minh rõ ràng nhất. Mặc du sự khác biệt về cấu trúc, chức năng và khả năng kết nối của não đã được chứng minh một cách nhất quán (Craske và c., 2017) nhưng vẫn chưa rõ mức độ khác biệt về thần kinh như vậy được thúc day bởi sự biến đối di truyền, tiếp xúc với môi trường, trai nghiệm lo âu theo thời gian hoặc sự tương tác của các yếu tô này.
Các yếu tô căng thăng trong môi trường và trải nghiệm học tập có thé làm tăng nguy cơ phát triển rối loạn lo âu (Ask và c.