Chương 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE ROI LOẠN LO ÂU XÃ HỘI VA CAN THIEP BANG LIEU PHAP TAM LY 1. Tổng quan nghiên cứu về rối loan lo âu xã hội Một nghiên cứu về rối loan lo âu xã hội trong cộng đồng Úc đã được tiến hành năm 2014 đã cho thay: Roi loan lo âu xã hội tiếp tục phổ biến trong dân số Úc và liên quan đến nhiêu các rồi loạn khác, tuy nhiên rất ít người mắc rồi loạn xã hội tim cách diéu trị (Erica Crome et al, 2014). Nghiên cứu dựa vào khảo sát Quốc gia về sức khỏe tâm thần và hạnh phúc do Cục thống kê Úc tiến hành năm 2007, thu thập thông tin từ một mẫu ngẫu nhiên đại diện trên toàn quốc gồm 8841 người ÚC từ 16-85 tuổi; sử dụng các tiêu chuẩn chan đoán rối loạn lo âu xã hội và các rối loan liên quan được đánh giá trong 12 tháng và trong suốt cuộc đời băng cách sử dụng phỏng van chân đoán. Kết quả nghiên cứu trên đã chỉ ra 8.4 % (KTC 95%, 7,8- 8,6%) người ÚC đáp ứng các tiêu chí SAD tại một số thời điểm trong cuộc đời họ, với một nửa (4,2%) trong số những người này trải qua các triệu chứng SAD trong 12 tháng.
Điều này tương đương với khoảng 1.260 người ÚC trải qua SAD trong cuộc đời họ: 627.630 người trải qua trong bat kỳ năm nào dựa trên dân số ước tính là 16. Kết quả nghiên cứu về các bệnh đi kèm rối loạn lo âu xã hội cho thay gần 70% những người đáp ứng các tiêu chí về rồi loạn lo âu xã hội trong 12 tháng qua cũng trải qua một chứng rối loạn tâm thần khác trong đời. Phần lớn bệnh đi kèm này có liên quan đến các rối loạn tâm lý khác bao gồm rối loạn trầm cảm nặng, rối loạn lo âu tổng quát và rối loạn căng thang sau chan thương. Mặc dù có những cải thiện về khả năng tiếp cận điều trị sức khỏe tâm thần ở Úc, những người mắc SAD ít có khả năng tìm cách điều trị, chỉ có một tỷ lệ nhỏ trong số những người tìm cách điều trị này được điều trị chuyên môn thông qua các nhà tâm lý học hoặc bác sĩ tâm thần.
Điều này nhắn mạnh sự cần thiết phải cải thiện việc xác định, điều trị và giới thiệu những người mắc chứng lo âu xã hội đến những chuyên gia dé được điều trị. Tại Tây Âu một nghiên cứu thống kê liên quan đến lo âu xã hội và các tình trạng sức khỏe do Viện chăm sóc sức khỏe Quôc gia và chât lượng điêu trị Vương 11 quốc Anh (NICE) tiến hành năm 2013. Theo báo cáo nghiên cứu này rối loạn lo âu xã hội là một trong những chứng chứng rối loạn lo âu phổ biến nhất ngay cả với các ước tính khác nhau giữa các quốc gia Tây Âu do sự khác biệt trong cách chân đoán cụ thê: e Tỷ lệ lo âu xã hội lên đến 12% trong đời được báo cáo so với 7% đối với căng thang sau sang chan (PTSD), 6% đối với rối loạn lo âu tổng quát, 5 % đối với chứng rỗi loạn hoảng sọ và 2% đối với rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD). e Lo âu xã hội phô biến hơn so với các tình trạng tự miễn dịch chính (viêm khớp dạng thấp, viêm loét đại tràng, đái tháo đường tuyp 1, bệnh đa xơ cứng.
Rối loạn lo âu xã hội là tình trạng rỗi loạn tâm thần phổ biến thứ ba sau trầm cảm và nghiện rượu. e Ở Anh, 0,32% trẻ em từ 5 đến 15 tuổi lo âu về mặt xã hội. Tỷ lệ này cao hơn so với PTSD, OCD và rối loạn hoảng sợ. Tỷ lệ chan đoán trong nghiên cứu của Anh này ở nam giới cao hon nữ giới và tăng nhẹ theo độ tuổi.
Ở Đức tỷ lệ này là 4% đối với trẻ từ 14-17 tuổi. Một nghiên cứu định tính năm 2022 của Samatha Coyle về chứng lo âu và suy giảm khả năng giao tiếp xã hội trong bối cảnh đại dịch COVID-19 dành cho thanh thiếu niên và thanh niên ở Bồ Đào Nha và Hoa Kỳ đã được thực hiện. Cuộc nghiên cứu này đã khám phá những trải nghiệm học tập và xã hội của thanh thiếu niên và thanh niên lo lắng về mặt xã hội ở Bồ Đào Nha và Hoa Kỳ khi họ sống qua những hạn chế do đại dịch COVID-19 áp đặt. Kết qua của nghiên cứu cho thấy: Những thay đổi trong các triệu chứng lo âu xã hội ở nhóm thanh niên Bồ Đào Nha: 70% người tham gia đã báo cáo các triệu chứng SAD nặng hơn, mở rộng sang bối cảnh trực tuyến, bao gồm sợ bị phán xét (100%), các triệu chứng soma (80%), tránh các tương tác xã hội (90%) và xử lý sau sự kiện (80%).
Hầu hết những người tham gia (70%) mô tả sự lo lắng dự kiến đáng ké xung quanh các tương tác trực tiếp, với 60% thanh niên cho biết họ cảm thay lac long va cần học lai cách giao tiếp xã hội. Ở nhóm thanh niên Hoa Kỳ, các triệu chứng SAD tăng lên đối với hầu hết những người tham gia mặc dù nhu cầu xã hội giảm và các tương tác chủ yếu là ảo. Nỗi sợ hãi trung tâm của SAD vẫn hiện diện trong các tương tác trực tuyến, bao gồm sợ bị 12 phán xét (100%), sợ bị theo dõi (71%), các triệu chứng cơ thể (71%), tránh các tương tác xã hội (100%) và xử lý hậu sự kiện (43%). Tất cả những người tham gia mô ta sự e ngại gia tang về việc tiếp tục xã hội hóa trực tiếp, ngay cả với những người quen thuộc.
Nhiều người nhắn mạnh rang các tương tác khó khăn và mệt mỏi hơn so với trước đây. Tại Việt Nam các nghiên cứu về SAD còn khá mới mẻ và rất ít. Các nghiên cứu về SAD chủ yếu được nghiên cứu trên nhóm đối tượng hoc sinh, sinh viên. Năm 2019 nghiên cứu về “Thực trạng mắc và một số yếu tố liên quan đến hội chứng ám ảnh sợ xã hội ở sinh viên Y học dự phòng, trường Đại học Y dược Hải Phòng” do nhóm các bác sỹ: Nguyễn Thị Thắm, Trịnh Thanh Xuân, Bùi Công Sơn, Phạm Thanh Hải tiến hành.
Nghiên cứu được thực hiện trên 237 sinh viên Y học dự phòng, số liệu được thu thập bằng các phiếu phát vấn sử dụng bộ công cụ được thiết kế sẵn, dùng thang do lo âu xã hội Liebowitz Social Anxiety Scale (LSAS) dé xác định người có SAD. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc SAD ở đối tượng nghiên cứu là 58. Có 67,9% sinh viên mắc SAD đang học năm 2 và 73,8% người hiện đang sông trong ký túc xá. Các yếu tô liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh bao gồm giới tính nữ (OR=2,70; p<0,05), sinh ra ở nông thôn (OR=4,36; p<0,01), thiếu tình cảm gia đình (OR=4,10; p<0,05), bị cha mẹ chỉ trích hàng ngày (OR=19,15; p<0,01), bị chế giéu về ngoại hình (OR=3,03; p<0,05), choi thé thao vai lần trong năm (OR=2,11; p<0.01), sử dụng mạng xã hội trên 4 tiếng mỗi ngày (OR=7,72; p<0.
Năm 2020, các tác giả Lê Thị Diễm Trinh cùng Phạm Tuần Cương, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Duy Phong đã có nghiên cứu về “Tỷ lệ mắc ám ảnh sợ xã hội và một số yếu tô liên quan ở học sinh THPT Nguyễn Khuyến, Tỉnh Bình Phước” thực hiện trên 430 học sinh ngẫu nhiên, sử dụng thang do lo âu xã hội LSAS dé đánh giá ty lệ mac ám anh sợ xã hội. Qua kết qua phân tích cho thay có 42,3 % học sinh mắc ám ảnh sợ xã hội với ngưỡng cắt >=55 tại thời điểm nghiên cứu. Trong đó phần lớn biểu hiện ở mức độ nhẹ và trung bình với tỷ lệ lần lượt là 35,7% và 37,4%. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và ám ảnh sợ xã hội.
Cụ thê học sinh nữ có tỷ lệ mắc ám ảnh sợ xã hội gấp 1,35 lần học sinh nam. Yếu tố tâm lí thiếu tự tin ngoại hình có liên quan đến tỷ lệ ám sợ xã hội. Qua phân tích 13 cho thấy những học sinh thiếu tự tin ngoại hình có tỷ lệ mắc ám sợ xã hội gấp 1,39 lần những học sinh không thiếu tự tin về ngoại hình. Tổng quan các nghiên cứu về can thiệp trị liệu rối loạn lo âu xã hội Trong nhiều năm qua các nghiên cứu về việc trị liệu rối loạn lo âu xã hội đã chỉ ra các liệu pháp can thiệp có hiệu quả đối với SAD.
Có nhiều nghiên cứu về hiệu quả can thiệp của Liệu pháp nhận thức, liệu pháp hành vi, liệu pháp nhóm nhận thức hành vi (CBGT) (Heimberg & Becker, 2002), liệu pháp thư giãn kết hợp, liệu pháp cam kết chấp nhận (ACT) (Herbert & Dalrymple, 2004), liệu pháp nhận thức hành vi trên internet (ICBT) đối với SAD. Nồi bật nhất van là các nghiên cứu về hiệu quả của liệu pháp can thiệp nhóm nhận thức hành vi. Trong một nghiên cứu quy mô lớn năm 1998 của Heimberg và cộng sự về hiệu quả của can thiệp nhóm nhận thức hành vi (CBGT) với 133 bệnh nhân mắc SAD ở 2 địa điểm được chỉ định ngẫu nhiên dùng phenelzine một chất ức chế monoamine oxidase thường được sử dụng để điều trị SAD, hoặc 12 tuần sử dụng liệu pháp CBGT. Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 12 tuần, cả thiệp bằng thuốc phenelzine (65%) và can thiệp nhóm nhận thức hành vi CBGT (58%) đều có tỷ lệ người đáp ứng cao (Heimberg et al, 1998).
Beidel và cộng sự (2000) đã đánh giá hiệu quả của biện pháp can thiệp hành vi dành riêng cho trẻ mắc chứng rối loạn lo âu xã hội. Sáu mươi bảy trẻ em (8-12 tudi) duoc chon ngau nhiên vào một liệu pháp can thiệp hành vi nhằm nâng cao các kỹ năng xã hội đồng thời giảm lo âu xã hội hay còn gọi là liệu pháp hiệu quả xã hội cho trẻ em (SET-C). Các thành phần chính của SET-C bao gồm giáo dục trẻ em và phụ huynh về chứng lo âu xã hội, đào tạo kỹ năng xã hội và trải nghiệm khái quát hóa ngang hàng cũng như tiếp xúc trong co thé. Trẻ em trong nhóm SET-C được điều trị 12 tuần, mỗi tuần bao gồm một buổi nhóm và một budi cá nhân.
Mức độ tác động không được kiểm soát sau điều trị đối với SET-C dao động từ 0,59 đến 2,30 đối với các biện pháp lo âu xã hội , 67% trẻ em trong nhóm SET-C không còn đáp ứng các tiêu chí vê chứng roi loan lo âu xã hội sau khi điều tri. 14 Albano và cộng sự (1995) đã đánh giá một phương pháp điều trị nhận thức- hành vi được thiết kế đặc biệt dé giải quyết chứng lo âu xã hội ở thanh thiếu niên ( Group Cognitive Behavior Treatment for Adolescents CBGT-A).