phần mở đầu, kết luận, cấu trúc luận văn gồm có hai chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Chƣơng 2: Tổ chức can thiệp, trị liệu cho thân chủ. Danh mục tài liệu tham khảo. 6 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề Theo Thống kê của Hiệp hội Trầm cảm Lo âu của Mỹ, có khoảng 2, 2 triệu ngƣời, tƣơng đƣơng với 1% dân số Mỹ bị rối loạn ám ảnh- cƣỡng chế.
Độ tuổi trung bình khi phát hiện bệnh là 19 và có 25% các ca xuất hiện bệnh khi thân chủ 14 tuổi, có 1/3 ngƣời lớn mắc bệnh này khi còn nhỏ. Tỷ lệ mắc bệnh rối loạn ám ảnh- cƣỡng chế là khoảng 2- 3 % trong dân số chung. Một số nhà khoa học còn ƣớc tính tỷ lệ bệnh OCD phát hiện ở phòng khám ngoại trú khoa tâm thần là hơn 10%. Số liệu này cho thấy OCD đƣợc chẩn đoán là 1 trong 4 rối loạn tâm thần phổ biến sau ám ảnh sợ, rối loạn tâm thần do nghiện các chất và rối loạn trầm cảm chủ yếu.
Ở ngƣời trƣởng thành, nam và nữ có tỷ lệ bị bệnh là ngang nhau nhƣng ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nam bị bệnh nhiều hơn nữ.Tuổi khởi phát bệnh khoảng 20 tuổi, nam giới có thể khởi phát sớm hơn (19 tuổi), nữ (22 tuổi). Nhìn chung, tuổi khởi phát bệnh trƣớc tuổi 25 là trên 60%, sau 35 tuổi là dƣới 15%. Sự khởi phát bệnh có thể xảy ra ở lứa tuổi trẻ em và thanh thiếu niên. Một số trƣờng hợp OCD trƣớc 2 tuổi đã đƣợc ghi nhận (dẫn theo Đỗ Ngọc Khanh, Hoàng Nhật, 2018).
Những ngƣời độc thân bị bệnh nhiều hơn những ngƣời lập gia đình, có thể phát hiện này phản ánh sự khó khăn của những ngƣời bị bệnh trong việc duy trì các mối quan hệ xã hội và xây dựng gia đình(dẫn theo Đỗ Ngọc Khanh, Hoàng Nhật, 2018). Một nghiên cứu cộng đồng với 3.020 ngƣời tại Singapore tuổi từ 13 đến 65 lại báo cáo tỷ lệ căn bệnh này chỉ ở mức 0. Hơn nữa, căn bệnh này thƣờng bắt đầu vào độ tuổi cuối vị thành niên – đầu trƣởng thành, thƣờng diễn biến khó lƣờng và mãn tính. Trong số 40 bệnh nhân mẫu mắc chứng OCD đƣợc điều trị tại Bệnh viện Đại học Quốc gia Singapore, 22 ngƣời là nam, và 80% số ngƣời có triệu chứng cả về ám ảnh lẫn hành vi cƣỡng chế.
Nỗi sợ hãi bị nhiễm khuẩn là điều thƣờng gặp nhất (60%); những chủ đề gây ám ảnh khác bao gồm sự cân đối và hoàn hảo (25%), bạo lực (10%) và tôn giáo (10%). 7 z Nghiên cứu phƣơng pháp trị liệu hành vi áp dụng cho bệnh nhân rối loạn ám ảnh- cƣỡng chế thấy rằng phần lớn đều thành công nếu hoàn thành cả khóa điều trị và ngƣời bệnh có dấu hiệu tích cực ngay khóa điều trị đầu tiên kết thúc. Cũng theo nghiên cứu này,với hơn 300 bệnh nhân điều trị theo phƣơng pháp "đối diện và đáp trả" có 76% chữa khỏi sau từ 3 tháng đến 6 năm. Một nghiên cứu khác cung cấp bằng chứng mới về hiệu quả của phƣơng pháp trị liệu hành vi nhận thức.
Phƣơng pháp trị liệu hành vi nhận thức khác với trị liệu hành vi ở chỗ nó nhấn mạnh đến sự thay đổi các mẫu niềm tin và suy nghĩ. Các nghiên cứu về sau nhắc nhở rằng trị liệu hành vi nhận thức cần đƣợc đánh giá đúng mức. Trong một nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên hiệu quả của liệu pháp nhận thức- hành vi theo nhóm với liệu pháp nhận thức- hành vi đối với cá nhân mắc OCD trên 110 bệnh nhân OCD điều trị ngoại trú đƣợc chỉ định 15 buổi trị liệu CBT theo nhóm hoặc theo cá nhân. Đo lƣờng về kết quả trƣớc và sau trị liệu, cũng nhƣ theo dõi 6- 12 tháng sau đó, ngƣời ta tìm thấy hệ số ảnh hƣởng trung bình thiên về CBT cá nhân hơn là nhóm sau điều trị.
Mặc dù hệ số ảnh hƣởng và mức độ ổn định đƣợc tìm thấy trong cả hai tình trạng điều trị mà nghiên cứu đề cập đến và điều trị OCD bằng liệu pháp nhóm cũng mang đến ý nghĩa đáng kể và đƣợc gợi ý mang đến lợi ích tiết kiệm thời gian hơn.[28] Một bài báo nghiên cứu về thử thách trong điều trị OCD cho thấy, can thiệp nhận thức cũng nhận đƣợc sự chú ý từ các nhà lâm sàng và nghiên cứu. Nhiều nhà trị liệu hiện nay kết hợp kỹ thuật phơi nhiễm và các kỹ thuật nhận thức, trong đó những niềm tin liên quan đến OCD đƣợc đánh giá và sửa đổi. Nghiên cứu cũng đề cập đến việc điều trị phẫu thuật thần kinh, các can thiệp y khoa chuyên sâu nhƣ: phẫu thuật cắt bỏ nang, kích thích não,… tồn tại những nguy hiểm của tác dụng phụ và là lựa chọn phƣơng pháp cuối cùng. Những triệu chứng đa dạng ngoại lệ và các tình trạng gây bệnh tật kèm theo của OCD tạo nên những thử thách đáng kể với những nhà lâm sàng chữa trị rối loạn này.[32] Một nghiên cứu khác về chiều kích triệu chứng và kết quả của liệu pháp nhận thức- hành vi đối với rối loạn ám ảnh- cƣỡng chế của các bệnh nhi, với nhóm 8 z 92 trẻ em và trong độ tuổi thanh thiếu niên mắc OCD (7- 19 năm) nhận đƣợc 14 buổi trị liệu CBT hàng tuần.
Đánh giá thực hiện khi bắt đầu và sau trị liệu dựa trên ấn tƣợng lâm sàng tổng quát, điểm số thang ám ảnh- cƣỡng chế của Yale Brown dành cho trẻ em. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, có những bằng chứng cho thấy bệnh nhân có nghi thức kiểm tra và ám ảnh làm hại có đáp ứng tốt hơn với CBT.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.1 Khái niệm trị liệu Theo Từ điển thuật ngữ Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên (2008), trị liệu tâm lý là sự trợ giúp tâm lý cho những ngƣời có khó khăn tâm lý khác nhau. Trị liệu tâm lý là tổ hợp những tác động trị liệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ lên cảm xúc, ý kiến, tự ý thức của những ngƣời có bệnh tâm lý thần kinh và bệnh tâm thể.Trị liệu tâm lý là tổ hợp những tác động tâm lý đa dạng nhằm khắc phục những sai lệch quá mức và chữa trị bệnh. Nhìn chung, trị liệu tâm lý có ảnh hƣởng đến tâm lý, trong đó có mối quan hệ với bản thân, đến trạng thái của bản thân ngƣời bệnh, đến ngƣời khác, với môi trƣờng xung quanh và với cuộc sống nói chung.
Trị liệu tâm lý có thể ở các dạng liệu pháp tâm lý cá nhân (tham vấn cá nhân) và liệu pháp nhóm (các trò chơi, các cuộc thảo luận,…). Ngƣời ta đã phân biệt một cách có điều kiện các trị liệu tâm lý sau: 1) Trị liệu tâm lý định hƣớng, chủ yếu là nhằm giảm bớt hoặc xóa bỏ những triệu chứng hiện có và liệu pháp tâm lý định hƣớng nhân cách, có nhiệm vụ giúp đỡ ngƣời bệnh thay đổi những mối quan hệ của họ đối với môi trƣờng xã hội và nhân cách của mình; 2) Các phƣơng pháp trị liệu tâm lý lâm sàng- thôi miên, luyện tập tự thƣ giãn, ám thị và tự ám thị, liệu pháp duy lý; 3) Trị liệu tâm lý định hƣớng nhân cách (trị liệu tâm lý cá nhân và trị liệu tâm lý nhóm) đƣợc sử dụng rộng rãi những dị bản khác nhau để phân tích những trải nghiệm xung đột ở ngƣời bệnh. Trong trị liệu tâm lý cá nhân, hiệu quả chữa trị phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng mối quan hệ tin tƣởng, tôn trọng lẫn nhau 9 z giữa nhà trị liệu và đối tƣợng chữa trị (khách hàng) cũng nhƣ khả năng làm việc của nhà trị liệu, trong đó khả năng thấu cảm là nhân tố quyết định tính hiệu quả của những tác động trị liệu. Trị liệu tâm lý nhóm là việc sử dụng những quy luật tâm lý của quan hệ liên nhân cách trong nhóm nhằm đạt đƣợc những tiến triển tâm lý và thể chất tích cực cho mỗi thành viên trong nhóm.
Với tƣ cách là những phƣơng pháp tác động trị liệu tích cực, các liệu pháp lao động, liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháp gia đình đã đƣợc sử dụng rộng rãi để tạo điều kiện nâng cao uy tín của khách hàng trong các mối quan hệ liên nhân cách, hoàn thiện khả năng tự nhận thức và tự điều chỉnh của chính họ.2 Khái niệm rối loạn Trong điều trị các rối loạn tâm thần, trị liệu tâm lý, rối loạn đƣợc sử dụng để nói đến các rối loạn tâm thần từ nhẹ đến nặng. Theo Từ điển thuật ngữ Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên (2008), rối loạn là sự đảo lộn cấu trúc của một cái gì đó; đảo lộn trật tự của một trạng thái bình thƣờng; gây thiệt hại cho một cái gì đó; là sự hỗn loạn hay là trạng thái bệnh lý làm đảo lộn trật tự của một trạng thái bình thƣờng của con ngƣời. Rối loạn tâm thần thƣờng đƣợc phân biệt với rối nhiễu tâm lý hay các rối nhiễu tâm căn. Rối nhiễu tâm căn là một trong hai nhóm lớn của tâm bệnh ngƣời lớn.
Nhóm còn lại là các bệnh loạn thần. Ménéchal (1999) định nghĩa bệnh tâm căn là những bệnh thuộc về nhân cách, đặc trƣng bởi việc những xung động nội tâm làm thay đổi mối quan hệ của chủ thể với môi trƣờng, bằng cách tạo ra những triệu chứng đặc hiệu luôn mang màu sắc sợ hãi. Bệnh tâm căn là kết quả của quá trình đấu tranh kéo dài của xung đột nội tâm và sự chống trả của chủ thể. Theo cách nào đó, nó là một giải pháp để chủ thể đối phó với những khó khăn gặp phải trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài.
Điểm đặc trƣng cần lƣu ý của các rối nhiễu tâm căn là bệnh nhân vẫn ý thức đƣợc bệnh của mình và không đánh mất mối liên hệ với thực tế, sự thực. Bệnh nhân có thể cảm nhận đƣợc nỗi đau khổ của bản thân, luôn luôn tìm cách giải quyết vấn đề, luôn tìm cách thoát khỏi nỗi sợ hãi. 10 z Tất cả các loại rối nhiễu tâm căn đều có chung những biểu hiện lâm sàng sau đây: - Khó khăn trong các mối quan hệ với ngƣời khác: Những ngƣời xung quanh thƣờng có cảm giác bệnh nhân là một ngƣời khó tính, tính khí bất ổn, cố chấp. - Sự xuất hiện bất ngờ của cơn sợ hãi: bệnh nhân luôn cảm thấy không an toàn và quá nhạy cảm trƣớc bất cứ yếu tố nào thuộc về bên ngoài.
Nỗi sợ hãi tác động đến tất cả các khía cạnh cơ thể, nhận thức, cảm xúc và hành vi của bệnh nhân.