MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Mắt người thân là một trải nghiệm mà nhiều người phải đối mặt trong cuộc sống. Sẽ càng khó khăn hơn với các cá nhân trong trường hợp người thân ra đi đột ngột. Việc chấp nhận sự ra đi của người thân mãi mãi là một thách thức khó khăn đối với mỗi người.
Điều này có thé gây ra những tác động lớn đối với tâm lý của cá nhân. Trong một nghiên cứu cua Katherine M. Keyes và cộng sự, 2014 đã chi ra rang cái chết của người thân là một trải nghiệm chan thương tiềm ân được báo cáo thường xuyên nhất. Sự mất mát người thân thường liên quan đến của các triệu chứng trầm cảm và lo âu, sử dụng chất gây nghiện và tăng nguy cơ xảy ra các phản ứng đau buồn kéo dài cũng như các van dé tâm lý khác.
Sự đau khổ là một phản ứng tự nhiên và cơ bản của mỗi con người khi đối diện với những sự kiện sinh tử trong cuộc sống, cá nhân có thể trải qua một loạt cảm xúc đa dạng như buồn bã, tức giận, sự cô đơn va rỗi loạn giác ngủ. Ngoài ra, tram cảm cũng là một trong những hệ quả thường gặp, khiến cho cá nhân mat hứng thú, khó khăn trong việc trải nghiệm niềm vui từ cuộc sống hàng ngày, thậm chí cảm thấy tuyệt vọng. Sự mat mát người thân cũng có thé gây ra rối loạn lo âu. Su mất mát này có thé làm cho cá nhân trải qua cảm giác cô đơn và tách biệt, khó khăn trong việc chia sé cảm xúc và duy tri mối quan hệ xã hội.
Cá nhân có thể xuất hiện rỗi loạn stress sau sang chấn khi người thân qua đời xảy ra một cách đột ngột và đau đớn, tạo ra những hình ảnh và cảm giác kinh hoàng. Giai đoạn tang chế có thé liên quan đến nguy cơ xuất hiện nhiều van dé tâm lý. Trong trường hợp người thân trải qua một quá trình bệnh lâu dài và sức khỏe suy kiệt rõ ràng do tudi già, sự ra di cua họ có thé được chấp nhận dễ dàng hơn vì cá nhân đã có thời gian chuẩn bị tinh thần. Tuy nhiên, nếu người thân ra đi bất ngờ, việc chấp nhận có thể trở nên khó khăn và có thé dẫn đến các van dé tâm lý cho những người ở lại.
Việc hiểu rõ những vấn đề tâm lý này giúp định hình các chiến lược can thiệp hiệu quả đối với những người đang trải qua sự mat mát người thân. Trong đó, tập trung vào khía cạnh này có thé giúp hiểu rõ hơn về tác động của sự mat mát đối với tâm lý của nạn nhân, cung cấp thông tin phòng ngừa và can thiệp hiệu quả ở những người trải qua những hoàn cảnh tương tự. Hiện tại, nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới dang tập trung vào việc hiểu rõ các van đề tâm lý liên quan đến sự mat mát người thân từ các phương diện mới, nhằm xác định các phương pháp phòng ngừa và điều trị cũng như phát triển các hướng trị liệu tâm lý hiệu quả hơn. Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu hiệu quả can thiệp tâm lý đối với các trường hợp có van dé tâm lý do mat người thân.
Vì những lý do trên HV lựa chọn đề tài Can thiệp cho một trường hợp có vấn dé tâm lý liên quan đến sự mat mát người thân. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu và trình bày các vấn đề lý luận về các vấn đề tâm lý liên quan đến sự mất mát người thân. - Đánh giá và định hình trường hợp lâm sàng. - Lập kế hoạch và thực hiện can thiệp tâm lý cho một trường hợp có vấn dé tâm lý liên quan đến sự mất mát người thân.
- anh giá hiệu quả can thiệp cho một trường hợp có vấn dé tâm lý liên quan đến sự mất mát người thân. - Dua ra những kết luận và khuyến nghị liên quan tới ca lâm sang, góp phan mở rộng nguồn dữ liệu về thực hành can thiệp trị liệu tâm ly cho một trường hợp có van đê tâm lý liên quan đên su mat mát người thân. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VAN DE TAM LÝ LIÊN QUAN DEN SỰ MAT MÁT NGƯỜI THÂN 1. Tổng quan một số nghiên cứu về van đề tâm lý liên quan đến sự mat mát người thân 1.
Một số nghiên cứu dịch tễ về vấn đề tâm lý liên quan đến sự mất mát người thân Sự mất mát đột ngột của người thân thường liên quan đến sự gia tăng các dấu hiệu của vấn đề tâm lý ở mỗi cá nhân. Giai đoạn tang chế gắn liền với nguy cơ xuất hiện vẫn đề tâm lý và trùng khớp với trải nghiệm mất mát người thân. Trải qua cái chết bất ngờ của người thân thường được đánh giá là một trong những trải nghiệm đau đớn nhất. Tỷ lệ mắc các rối loạn tâm lý tăng cao sau sự mat mát bat ngờ như tram cảm nặng, rối loạn hoảng sợ, và rối loạn căng thăng sau sang chấn.
Sự gia tăng này tập trung chủ yếu ở các nhóm tuổi trưởng thành, với sự xuất hiện của hưng cảm, sự ám ảnh, rỗi loạn sử dụng rượu, và rồi loan lo âu (Katherine M Keyes và cộng sự, 2014). Cái chết đột ngột và bất ngờ của một người quan trọng trong cuộc sống thường được xem là một sự kiện có thé gây căng thắng cực kỳ mạnh mẽ, đi kèm với nhiều biểu hiện như: xuất hiện một loạt phản ứng đau buồn, thay đôi cảm xúc, nhận thức, hành vi và sinh lý. Mất mát người thân liên quan đến nguy cơ tử vong cao, nhất là trong những tuần và tháng đầu tiên sau sự kiện đau buồn. Thêm vào đó, những người trải qua mất mát này thường thể hiện những phản ứng tâm lý đa dạng.
Một số người có thê trải qua rối loạn tâm thần hoặc biến chứng tâm thần trong quá trình trải qua giai đoạn đau buồn (Stroebe M và cộng sự, 2007). Sự đau buồn do mat đi người thân có tác động mạnh mẽ đến tâm lý và thé chất của cá nhân. Phản ứng tâm lý trước sự mat mát thường được đặc trưng bởi các mức độ cảm xúc tiêu cực như tram cảm, lo lắng, tuyệt vọng, tê liệt và hoài nghi (Bowlby, 1980). Hậu quả về sức khỏe thé chất của việc mat người thân bao gồm suy giảm chức năng miễn dịch (Irwin, Daniels, & Weiner, 1987), tăng số lần nhập viện và phẫu thuật (Glick, Weiss, & Parkes, 1974), và tăng tỷ lệ tử vong (Osterweis, Solomon, & Green, 1984; Young, Benjamin, & Wallis, 1963; Stroebe & Stroebe, 1993).
Sự mất mát người thân bất ngờ, đột ngột thường gắn liền với những phản ứng đau buồn dit dội và kéo dai hơn (Osterweis, Solomon, & Green, 1984). Hơn 50% những người từng chăm sóc người thân đã qua đời trải qua các triệu chứng tram cảm đáng kế sau sự mat mát. Người chăm sóc có nhiều triệu chứng tram cảm thường gặp hơn là các triệu chứng rối loạn đau buồn kéo dài và trầm cảm nặng (Jessica Y. Allen và cộng sự, 2013).
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự mất mát đột ngột của người thân có thê có tác động tiêu cực đáng kể đối với tâm lý của những người gặp mat mát. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc các van dé tâm lý như PTSD, rối loạn trầm cảm nặng (MDD) và rối loan đau buồn kéo dài (PGD, hay còn gọi là đau buồn phức tạp) có sự biến động đáng kế theo từng nghiên cứu. Đồng thời, các rối loạn về tâm thần xuất hiện cao hơn sau mat mát đột ngột so với mat mát do tự nhiên và thời gian hồi phục dường như kéo đài hơn. Ngoài ra, một số yếu tố liên quan đến hoàn cảnh mat mát có thé tăng nguy cơ xuất hiện các van đề tâm lý của tang quyến.
Những yếu tô này có thé gắn liền với các kết quả khác nhau, với một số tăng nguy cơ mắc PTSD, trong khi một số khác tăng nguy cơ mắc PGD. Sự hiểu biết về những yếu tổ này có thé giúp hỗ trợ hiệu quả cho những người đang trải qua quá trình đau buồn và mất mát (Parl Kristensen và cộng sự, 2012). Nghiên cứu của Parl Kristensen và cộng sự trên 111 tang quyến ở Na Uy (32 người có tiếp xúc trực tiếp và 79 người không tiếp xúc trực tiếp) sau thảm họa sóng thần năm 2004 cho thấy tỷ lệ mắc các vấn đề tâm lý ở những người tiếp xúc trực tiếp với thảm họa gấp đôi so với những người không tiếp xúc trực tiếp. Trong số những người tiếp xúc trực tiếp, tỷ lệ rối loạn là PTSD (34,4%), MDD (25%) và PGD (23,3%), trong khi những người không tiếp xúc trực tiếp có tỷ lệ là PGD (14,3%), MDD (10,1%) va PTSD (5,2%).
Các rối loạn xảy ra đồng thời nhiều hơn ở những người tiếp xúc trực tiếp. Gánh nặng kép của chan thương và mat mát trực tiếp có thể gây ra những phản ứng phức tạp và vấn đề tâm lý kéo dài ở những người mat mát người thân (Parl Kristensen và cộng sự, 2009). Mat con là một sự kiện đau buồn có thé gia tăng nguy cơ xuất hiện các van dé tâm lý. Nữ giới thường trải qua tần suất đau buồn kéo dài cao hơn so với nam giới.
Nhưng nghiên cứu cũng chỉ ra răng đôi với nam giới việc mât con lại có khả năng gây ra đau buôn kéo dai cao hơn so với các hình thức tang chế khác (Kerstin Bergh Johannesson và cộng sự, 2011). Các van dé tâm ly cá nhân mà vợ hoặc chồng có thể phải đối mặt sau khi mất mát người thân gồm có trầm cảm (kèm theo nguy cơ tự tử), lo âu, lam dụng chất gây nghiện và các triệu chứng rối loan đau buồn kéo đài (A Rozenzweig và cộng sự, 1997). Sự mất mát người thân thường xảy ra ở người lớn tuổi và có thê dẫn đến trầm cảm nặng và rối loạn đau buồn kéo dài (Angela Ghesquière và cộng sự, 2013). Nghiên cứu của Fur - Hsing Wen và cộng sự đã chỉ ra rằng PGD, PTSD và các triệu chứng tram cảm có thé ton tại trong khoảng thời gian 2 năm sau sự mất mát.
Các triệu chứng PGD cao hơn vào thời điểm 6 tháng sau sự mất mát người thân, điều này dẫn sự trầm trọng của các triệu chứng PTSD theo thời gian. Các triệu chứng PTSD kéo dài sau 6 tháng liên quan đến sự trầm cảm kéo dài và các triệu chứng PGD sau năm đầu tiên của quá trình tang chế.