Chương 1. Tổng quan về khó khăn tâm lý Các van đề tâm lý hiện đang dan trở thành gánh nặng bệnh tật lớn cho xã hội, riêng tram cảm đã xếp thứ tư trong danh sách các bệnh mãn tinh phổ biến (Australian Institute of Health and Welfare: Chronic Diseases, 2005). Có thê thay được sự phổ biến của van dé tâm lý trong xã hội là rat rộng lớn và đang là mối quan tâm của toàn cộng đồng. Nghiên cứu trong nhiều thập ky qua cho thay mối liên hệ đáng kê giữa rôi loạn chức năng tâm lý ở tuôi trưởng thành và tiền sử bị lạm dụng hoặc bỏ rơi thời thơ ấu.
Các hình thức ngược đãi chính ở thời thơ au có liên quan đến tác động lâu dài đối với phụ nữ trưởng thành bao gồm lạm dụng tình dục (thường liên quan đến các hành vi tình dục đối với trẻ em trong bối cảnh mat cân bằng quyền lực theo độ tuổi dé thỏa mãn tình duc của người phạm tội), lạm dụng thể chất (hành vi thể xác đối với trẻ em, thường là bởi cha mẹ hoặc nhân vật có thẩm quyền khác, dẫn đến tôn thương mô ở một mức độ nào đó, từ vết bam tím hoặc vết rách đến gãy xương hoặc răng, hoặc trong trường hợp nghiêm trọng là tử vong), lạm dụng tâm lý (ví dụ: sự chỉ trích liên tục của cha mẹ / người chăm sóc, từ chối , mất giá, hoặc sỉ nhục), va tâm lý bỏ mặc (liên quan đến việc cha mẹ / người chăm sóc không cung cấp sự chăm sóc, hỗ trợ, kích thích tình cảm và / hoặc sự trả công xứng đáng cho đứa trẻ; xem các đánh giá cua Briere, 1992; Myers và cs, 2002). Theo nghiên cứu của Ensink và cộng sự (2020), các nạn nhân trẻ em của lạm dụng tình dục có nhiều khả năng bị phân loại là có sự gắn bó không an toàn và vô tổ chức. Hơn nữa, sự gan bó không an toan là yếu tố chính liên quan đến các triệu chứng tram cảm tự báo cáo cao hơn ở tất cả trẻ em từng bị lạm dụng tình dục. Sakyi và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu mối liên hệ tương lai giữa tình bạn thời thơ ấu và những khó khăn tâm lý ở tuổi trưởng thành của thanh niên (Sakyi và cs, 2015).
Kết quả chỉ ra rằng, thanh niên không có bạn thời thơ ấu có tỷ lệ gặp khó khăn tâm lý cao hơn những người có ít nhất một người bạn. Có thể thấy, các mối quan hệ xã hội trong giai đoạn đầu đời có thể gây ra những hậu quả đối với tâm lý của người lớn. Theo Haines và cộng sự (2002), cha me của những đứa trẻ có khó khăn về tâm lý thường it tìm đến tư van nếu con họ là con gái, do thu nhập hộ gia đình giảm hoặc nếu chủ hộ xuất thân từ tầng lớp xã hội chân tay. Ngược lại, các bậc cha mẹ có nhiều khả năng tìm kiếm sự tư vấn nếu họ nhận được một quyên lợi hơn là nếu họ không nhận được một khoản trợ cấp.
Tudi của trẻ và kiểu gia đình không dự đoán được việc tham vấn của cha mẹ. Mặc dù một phần tư thanh thiếu niên có khả năng gặp khó khăn về cảm xúc và tâm lý, nhưng chỉ một phần ba trong số họ sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ của chuyên gia (Chen và cộng sự, 2014). Ngay cả những người có van đề nghiêm trọng cũng tránh tìm kiếm sự giúp đỡ hoặc gặp phải sự chậm trễ đáng ké trong việc nhận được sự trợ giúp thích hợp (Biddle và cs, 2006). Những người trẻ tuổi không tin tưởng bác sĩ đa khoa của họ, coi họ như những người xa lạ, vô can và thiếu quan tâm.
Các rào cản đối với việc tìm kiếm sự trợ giúp từ các chuyên gia đã được xác định rất nhiều như sự phụ thuộc nhiều vao bản thân để giải quyết vấn đề, thiếu năng lực cảm xúc, tính bảo mật, người khác phát hiện ra và thái độ tiêu cực khi tìm kiếm sự trợ giúp từ chuyên gia (Gulliver và cs, 2010; Rickwood, Deane, Wilson, & Ciarrochi, 2005). Khi thiếu các mối quan hệ như vậy, thanh thiếu niên không nhận được các can thiệp cần thiết, do đó vẫn đề sức khỏe tâm thần của họ vẫn chưa được điều trị và có khả năng tram trọng hơn khi trưởng thành. Các van dé sức khỏe tâm thần (hành vi va cảm xúc) làm suy giảm hoạt động hàng ngày ở tuổi thiếu niên và kéo dài đến tuôi trưởng thành nếu không được phát hiện và không được điều trị (Crutzen & De Nooijer, 2010). Lauceulle và cộng sự (2014) đã chỉ ra rằng trẻ em tiếp xúc với các sự kiện căng thang cho thấy khó khăn tâm ly gia tăng đáng kể ở độ tuôi 7 và 11 tuổi; có băng chứng nhất quán về mô hình tương hỗ: những khó khăn tâm lý dự đoán các sự kiện căng thăng ở mỗi giai đoạn.
Các phân tích cũng chỉ ra rằng mối liên hệ giữa các sự kiện căng thang và khó khăn tâm lý ở trẻ em gái mạnh hơn trẻ em trai. Liên quan đến các đặc điểm rối loạn nhân cách, thanh thiếu niên từng bị lạm dụng tình dục gặp khó khăn hơn đáng kế so với người chưa từng bị (Begin và cs, 2018). Đối với việc tự gây thương tích cho bản thân, thanh thiếu niên từng bị lạm dụng tình dục, cũng như những người từng bị bỏ rơi có nguy cơ thực hiện hành vi này cao hơn. Những trẻ vị thành niên từng bị lạm dụng tình dục cũng có xu hướng gặp nhiều khó khăn tâm lý hơn.
Các gia đình có thành viên có vấn đề tâm lý ở thời thơ ấu bị thiệt hại nặng né và lâu dai về kinh tế (Smith va Smith, 2010). Một đứa trẻ có khó khăn tâm lý khiến bố mẹ có ít thời gian làm việc hơn và có thé phải chi tiền cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ tâm lý cho đứa con đó. Đại dịch COVID-19 gan đây đã gây ra nhu cầu cấp thiết cho các cơ sở giáo dục đại học và đội ngũ giảng viên của họ phải chuyền quá trình giáo dục trực tuyến trong thời gian ngắn nhất có thé. Cần phải thừa nhận rang giáo dục đại học trên toàn thế giới đang thay đổi, và các cơ sở giáo dục phải đối mặt với những thách thức khi thích ứng với thực tế COVID-19 mới - dạy và học kỹ thuật số kết hợp.
Tuy nhiên việc học online cũng góp phần gây ra nhiều khó khăn trong học tập cho học sinh và từ đó gia tăng căng thăng học tập và tạo ra khó khăn tâm lý. Mối quan tâm liên quan đến trường học có liên quan đáng kể với mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng sức khỏe tâm thần (Ogilvie và cs, 2019). Bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ việc chú ý đến những khó khăn liên quan đến trường học trước khi xuất viện từ địch vụ chăm sóc tâm thần tiếp tục sau quá trình tái hòa nhập trường học. Các khái niệm cơ bản 1.
Khó khăn Theo tác giả Hoàng Phê hay Nguyễn Như Ý, khó khăn được định nghĩa là việc có nhiều trở ngại, đòi hỏi phải có sự nỗ lực cô găng mới đạt được kết quả. Theo tác giả Dương Thị Kim Oanh, khó khăn là những trở ngại cản trở quá trình hoạt động, doi hỏi cá nhân phải có nhiều nỗ lực khắc phục dé đạt mục tiêu đã đề ra. Khó khăn tâm lý Khó khăn tâm lý là một khái niệm khá phức tạp. Ngoài “khó khăn tâm lý”, các tác giả, nhà nghiên cứu khác còn sử dụng các thuật ngữ như “trở ngại tâm lý:, “rào can tâm lý”, “hang rao tâm ly”, “ thiếu hut tâm lý”, “khó khăn nhận thức”,.
Theo tác giả Nguyễn Xuân Thức, “Khó khăn tâm lý là sự không phù hợp giữa đặc điểm tâm lý và hành vi ứng xử của nhân cách với nội dung, đối tượng, hoàn cảnh hoạt động của chủ thé, được biéu hiện ở các dấu hiệu: nhận thức, thai độ và hành vi ứng xử”. Tác giả Mạc Văn Trang cho rằng “Khó khăn tâm lý là hội chứng của sự kém thích ứng về mặt tâm lý của cá nhân với môi trường, khiến cho hoạt động và giao tiếp của cá nhân gặp trở ngại, kém hiệu quả, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc song và sự phát triển tâm lý của cá nhân”. Theo tác giả Nguyễn Thị Thiên Kim, “Khó khăn tâm lý là những nét tâm lý cá nhân, nảy sinh trong quá trình hoạt động của chủ thể, gây trở ngại, ảnh hưởng tiêu cực đên quá trình và hiệu quả hoạt động của chủ thê” 10 Theo tác giả Cao Xuân Liễu, “Khó khăn tâm lý là tổ hợp các thuộc tính, các trạng thái, các đặc điểm nhân cách không phù hợp với đối tượng hoạt động làm cho quá trình hoạt động gặp khó khăn, làm cho chủ thể không phát huy được khả năng của mình, dẫn đến kết quả hoạt động bị hạn chế” Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về khó khăn tâm lý, song nhìn chung, các tác giả đều cho rằng đây là những thiếu hụt các yếu tố tâm lý gây can trở hoạt động của ca nhân và làm cho hoạt động đó kém hiệu quả. Dac biệt, hầu hết các tác giả đều căn cứ vào ba mặt: nhận thức, thái độ và hành vi trong hoạt động nhất định của chủ thể để đánh giá khó khăn tâm lý.
Tóm lại, có thé khái quát khó khăn tâm lý là sự thiếu hụt, không toàn vẹn về các khía cạnh tâm lý, thể hiện ở sự hạn chế về các mặt: nhận thức, thái độ và hành vi làm cá nhân lúng túng, lo lắng, gặp nhiều trở ngại và có các cảm xúc tiêu cực khi tiến hành thực hiện một hoạt động nao đó. Khi những hạn chế của các khía cạnh tâm lý ngày cảng nhiều, gây cản trở các hoạt động chức năng của cá nhân, chúng trở thành các triệu chứng của các rối nhiễu tâm lý. Các khó khăn tâm lý có thé nảy sinh do các yếu tô khách quan (điều kiện, phương tiện, môi trường gia đình, xã hdi,.) hoặc yếu tố chủ quan (nhận thức, thái độ, năng lực, hứng thú, động cơ, kinh nghiệm,. Các lý thuyết tiếp cận Thuyết nhận thức Tiếp cận nhận thức cho rằng phản ứng của con người trước các sự kiện, tình huống trong cuộc sống là tổng hòa phản ứng của một hệ thống bao gồm các yếu tố khác nhau: nhận thức, cảm xúc, động cơ và hành vi (Beck, 2020).
Trong đó nhận thức đảm nhận vai trò lý giải và đưa ra ý nghĩa cho sự kiện, tình huống diễn ra trong thực tế. Như vậy, nhận thức đóng vai trò là yếu tố diễn dịch, giải thích hay chính là xử lý các thông tin về sự kiện, tình huống bên ngoài.