Luận văn Thạc sĩ Can thiệp trị liệu tâm lý cho bệnh nhân rối loạn ám ảnh cưỡng chế - Nguyễn Thị Kim Thoa, ĐHQG HN

Can thiệp trị liệu tâm lý cho bệnh nhân ám ảnh cưỡng chế. Khám phá phương pháp điều trị, kỹ thuật và cách tiếp cận tâm lý học hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Tâm lý học lâm sàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

166
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về can thiệp trị liệu cho bệnh nhân rối loạn ám ảnh cưỡng chế

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) là một rối loạn tâm lý đặc trưng bởi sự xuất hiện反复出现 của những ý nghĩ ám ảnh và hành vi cưỡng chế. Bệnh nhân trải qua những suy nghĩ không mong muốn, gây lo âu mạnh mẽ, buộc phải thực hiện các hành vi nghi thức để giảm bớt cảm giác khó chịu. Tình trạng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, công việc và các mối quan hệ xã hội của người bệnh. Can thiệp trị liệu cho bệnh nhân OCD đòi hỏi sự kết hợp giữa các phương pháp tâm lý trị liệu và dược liệu pháp. Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh hiệu quả của liệu pháp hành vi nhận thức trong việc giảm triệu chứng ám ảnh và cưỡng chế. Quá trình điều trị cần được cá nhân hóa dựa trên đặc điểm riêng của từng bệnh nhân. Mục tiêu chính là giúp bệnh nhân nhận diện và thay đổi các mô hình suy nghĩ, hành vi không thích hợp. Việc can thiệp sớm và đúng phương pháp mang lại triển vọng phục hồi tích cực cho người mắc OCD.

1.1. Định nghĩa và đặc điểm rối loạn ám ảnh cưỡng chế

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế được định nghĩa là tình trạng tâm lý trong đó người bệnh反复 xuất hiện những ý nghĩ, hình ảnh hoặc xung động không mong muốn gây lo âu mạnh. Những ý nghĩ ám ảnh này thường liên quan đến nỗi sợ ô nhiễm, sợ gây hại, hoặc nhu cầu đối xứng hoàn hảo. Để giảm bớt lo âu, bệnh nhân被迫 thực hiện các hành vi cưỡng chế như rửa tay反复, kiểm tra反复, hoặc sắp xếp物品 theo trình tự cụ thể. Các hành vi này được nhận thức là过度 hoặc vô lý nhưng bệnh nhân không thể kiểm soát được. Triệu chứng phải kéo dài ít nhất hai tuần và gây rối loạn显著 trong sinh hoạt hàng ngày.

1.2. Tình hình nghiên cứu can thiệp trị liệu OCD tại Việt Nam

Nghiên cứu về can thiệp trị liệu cho bệnh nhân OCD tại Việt Nam đã có những tiến triển đáng kể trong những năm gần đây. Các công trình nghiên cứu tại Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia và các trường đại học đã áp dụng thành công liệu pháp hành vi nhận thức kết hợp với dược liệu pháp. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thoa năm 2018 tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là một trong những luận văn thạc sĩ tiêu biểu về chủ đề này. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc áp dụng phác đồ điều trị chuẩn hóa giúp cải thiện显著 triệu chứng ở hơn 70% bệnh nhân. Tuy nhiên, vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu đa trung tâm để xây dựng hướng dẫn điều trị phù hợp với đặc điểm văn hóa Việt Nam.

II. Phân tích vấn đề trong can thiệp trị liệu bệnh nhân OCD

Can thiệp trị liệu cho bệnh nhân OCD面临着 nhiều thách thức phức tạp đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về cơ chế bệnh sinh. Bệnh nhân thường có nhận thức méo mó về mức độ nguy hiểm của các tình huống平凡, dẫn đến phản ứng lo âu过度. Các hành vi cưỡng chế虽然暂时 giảm lo âu nhưng lại duy trì và强化 vòng xoáy ám ảnh-cưỡng chế theo thời gian. Một vấn đề quan trọng là sự抵抗 của bệnh nhân trong việc từ bỏ các hành vi nghi thức vì sợ rằng điều tồi tệ sẽ xảy ra. Sự tham gia của gia đình cũng ảnh hưởng显著 đến quá trình điều trị, đôi khi vô tình duy trì triệu chứng bằng cách tạo điều kiện cho hành vi nghi thức. Bệnh nhân thường延迟很长时间 mới tìm kiếm trợ giúp do羞耻 hoặc thiếu nhận thức về bệnh. Đánh giá chính xác mức độ nghiêm trọng và các yếu tố诱发 là nền tảng quan trọng để xây dựng kế hoạch can thiệp hiệu quả.

2.1. Đặc điểm lâm sàng và phân loại triệu chứng OCD

Triệu chứng OCD được phân loại thành hai nhóm chính: ám ảnh và cưỡng chế. Ám ảnh bao gồm các ý nghĩ反复 về ô nhiễm, gây hại, nghi ngờ, hoặc nhu cầu đối xứng. Cưỡng chế bao gồm hành vi rửa tay, kiểm tra, đếm, sắp xếp反复 để giảm lo âu. Mức độ nghiêm trọng được đánh giá theo thang Y-BOCS với điểm số từ 0-40. Bệnh nhân thường có多种 loại ám ảnh và cưỡng chế同时 xuất hiện. Đặc điểm nhận thức bao gồm phóng đại trách nhiệm,过度 lo ngại nguy hiểm, và nhu cầu kiểm soát hoàn hảo. Các triệu chứng có tính chu kỳ, thường加重 trong giai đoạn stress.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị OCD

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả can thiệp trị liệu cho bệnh nhân OCD. Yếu tố bệnh nhân包括: mức độ nhận biết bệnh, động lực thay đổi, và khả năng hợp tác điều trị. Các yếu tố triệu chứng bao gồm: loại ám ảnh, mức độ严重, thời gian bệnh diễn tiến, và sự hiện diện của bệnh lý伴随. Yếu tố gia đình和社会 có vai trò quan trọng: sự hỗ trợ từ người thân, hoàn cảnh sống, và áp力社会. Phương pháp trị liệu được lựa chọn, liều lượng thuốc, và mối quan hệ trị liệu cũng决定 tính đến hiệu quả. Bệnh nhân có triệu chứng hoang tưởng hoặc滥用 chất thường có kết quả điều trị kém hơn.

III. Phương pháp can thiệp trị liệu hiệu quả cho bệnh nhân OCD

Liệu pháp hành vi nhận thức (CBT) được chứng minh là phương pháp hiệu quả nhất trong can thiệp trị liệu cho bệnh nhân OCD. Kỹ thuật核心 là liệu pháp tiếp xúc và ngăn chặn đáp ứng (ERP), giúp bệnh nhân面对 trực tiếp các tình huống诱发 mà không thực hiện hành vi cưỡng chế. Quá trình điều trị được xây dựng循序渐进 từ简单到 phức tạp, cho phép bệnh nhân适应 dần với cảm giác lo âu. Liệu pháp nhận thức帮助 bệnh nhân识别 và thay đổi các niềm tin扭曲 về trách nhiệm và nguy hiểm. Dược liệu pháp kết hợp sử dụng thuốc ức chế tái thu hồi serotonin có chọn lọc (SSRI) để giảm triệu chứng. Quá trình điều trị通常 kéo dài 12-20 buổi, với bài tập về nhà巩固 kỹ năng học được. Sự hợp tác chặt chẽ giữa trị liệu viên, bệnh nhân và gia đình是 yếu tố quyết định thành công. Đánh giá tiến triển定期 giúp điều chỉnh kế hoạch trị liệu cho phù hợp.

3.1. Liệu pháp tiếp xúc và ngăn chặn đáp ứng ERP

Liệu pháp tiếp xúc và ngăn chặn đáp ứng (ERP) là kỹ thuật核心 trong điều trị OCD. Nguyên tắc基础 là帮助 bệnh nhân面对 trực tiếp刺激诱发 mà không允许 thực hiện hành vi cưỡng chế. Quá trình tiếp xúc được thực hiện循序渐进 theo bậc thang từ简单 đến khó. Bệnh nhân面对 tình huống诱发直到 lo âu tự nhiên giảm mà không cần依靠 hành vi nghi thức. Bài tập về nhà巩固技能 learned trong buổi trị liệu. ERP thường kết hợp với liệu pháp nhận thức để thay đổi niềm tin扭曲. Thời gian điều trị通常 12-16 buổi, mỗi buổi 60-90 phút. Nghiên cứu cho thấy 60-80% bệnh nhân cải thiện显著 sau liệu trình ERP.

3.2. Liệu pháp nhận thức và can thiệp dược liệu pháp

Liệu pháp nhận thức帮助 bệnh nhân识别 và thay đổi các模式 suy nghĩ扭曲 liên quan đến OCD. Kỹ thuật bao gồm: xác định tự động思维, thách thức niềm tin过度, và phát triển替代思维方式 hợp lý hơn. Bệnh nhân học cách nhận diện phóng đại trách nhiệm và过度 lo ngại nguy hiểm. Dược liệu pháp sử dụng thuốc ức chế tái thu hồi serotonin có chọn lọc (SSRI) như fluoxetine, fluvoxamine, sertraline. Liều thuốc thường cao hơn điều trị trầm cảm. Thời gian dùng thuốc至少 12 tháng để防止 tái phát. Kết hợp CBT và thuốc cho hiệu quả tốt nhất, đặc biệt với trường hợp nặng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn can thiệp trị liệu OCD

Can thiệp trị liệu cho bệnh nhân rối loạn ám ảnh cưỡng chế已经 đạt được những tiến bộ显著 trong thập kỷ qua. Các bằng chứng khoa học证实 hiệu quả của liệu pháp hành vi nhận thức kết hợp với dược liệu pháp. Quá trình điều trị需要 sự cá nhân hóa dựa trên đặc điểm riêng của từng bệnh nhân và mức độ nghiêm trọng triệu chứng.Ứng dụng thực tiễn đòi hỏi đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ nhân viên y tế về phác đồ điều trị chuẩn. Sự hợp tác đa ngành giữa tâm lý học lâm sàng, tâm thần học, và công tác xã hội giúp提高 hiệu quả chăm sóc. Giáo dục sức khỏe cho cộng đồng giúp giảm羞耻 và促进 việc tìm kiếm trợ giúp sớm. Nghiên cứu tương lai cần tập trung vào phát triển các can thiệp基于 công nghệ như trị liệu trực tuyến. Kết quả khả quan từ các nghiên cứu lâm sàng mở ra triển vọng cải thiện显著 chất lượng cuộc sống cho người bệnh OCD.

4.1. Tổng kết hiệu quả can thiệp trị liệu OCD

Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy can thiệp trị liệu OCD đạt hiệu quả cao khi áp dụng đúng phương pháp. Liệu pháp ERP giúp 60-80% bệnh nhân giảm显著 triệu chứng, với hiệu quả duy trì lâu dài. Kết hợp CBT và SSRI tăng tỷ lệ thành công lên 70-85%. Bệnh nhân report cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống, khả năng làm việc, và mối quan hệ xã hội. Thời gian điều trị trung bình 12-20 buổi cho thấy kết quả tích cực. Tỷ lệ tái phát giảm明显 khi duy trì thuốc và thực hành kỹ năng đã học. Các yếu tố dự báo thành công包括: động lực cao, triệu chứng单纯, và thời gian bệnh ngắn.

4.2. Hướng dẫn thực hành và đề xuất cho chuyên gia

Chuyên gia trị liệu cần được đào tạo chuyên sâu về CBT và kỹ thuật ERP để can thiệp OCD hiệu quả. Quy trình đánh giá toàn diện包括: sử dụng thang Y-BOCS, đánh giá bệnh lý伴随, và yếu tố tâm lý社会. Kế hoạch trị liệu nên循序渐进, với mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Bài tập về nhà巩固 kỹ năng học được trong buổi trị liệu. Tư vấn gia đình帮助 người thân hiểu bệnh và避免 duy trì triệu chứng. Theo dõi定期 giúp đánh giá tiến triển và điều chỉnh kế hoạch. Chuyển tuyến sang dược liệu pháp khi triệu chứng重度 hoặc không đáp ứng với trị liệu tâm lý đơn thuần.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn thạc sĩ can thiệp trị liệu cho bệnh nhân mắc rối loạn ám ảnh cưỡng chế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Chương 2: Tổ chức can thiệp, trị liệu cho thân chủ. Danh mục tài liệu tham khảo. CHUONG 1: CO SO LY LUAN CUA DE TAI 1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề Theo Thống kê của Hiệp hội Trầm cảm Lo âu của Mỹ, có khoảng 2, 2 triệu người, tương đương với 1% dân số Mỹ bị rối loạn ám ảnh- cưỡng chế.

Độ tuổi trung bình khi phát hiện bệnh là 19 và có 25% các ca xuất hiện bệnh khi thân chủ 14 tuổi, có 1/3 người lớn mắc bệnh này khi còn nhỏ. Tỷ lệ mắc bệnh rồi loạn ám ảnh- cưỡng chế là khoảng 2- 3 % trong dân số chung. Một số nhà khoa học còn ước tính tỷ lệ bệnh OCD phát hiện ở phòng khám ngoại trú khoa tâm thần là hơn 10%. Số liệu nay cho thay OCD được chân đoán là I trong 4 rối loạn tâm thần phổ biến sau ám ảnh sợ, rối loạn tâm thần do nghiện các chất và rối loạn trầm cảm chủ yếu.

Ở người trưởng thành, nam và nữ có tỷ lệ bị bệnh là ngang nhau nhưng ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nam bị bệnh nhiều hơn nữ.Tuôi khởi phát bệnh khoảng 20 tuổi, nam giới có thể khởi phát sớm hơn (19 tuổi), nữ (22 tuổi). Nhìn chung, tuổi khởi phát bệnh trước tuôi 25 là trên 60%, sau 35 tuổi là đưới 15%. Sự khởi phát bệnh có thể xảy ra ở lứa tuổi trẻ em và thanh thiếu niên. Một số trường hợp OCD trước 2 tuổi đã được ghi nhận (dẫn theo Đỗ Ngọc Khanh, Hoàng Nhật, 2018).

Những người độc thân bị bệnh nhiều hơn những người lập gia đình, có thể phát hiện này phản ánh sự khó khăn của những người bị bệnh trong việc duy trì các mối quan hệ xã hội và xây dựng gia đình(dẫn theo Đỗ Ngọc Khanh, Hoàng Nhật, 2018). Một nghiên cứu cộng đồng với 3.020 người tại Singapore tuổi từ 13 đến 65 lại báo cáo tỷ lệ căn bệnh này chỉ ở mức 0. Hơn nữa, căn bệnh này thường bắt đầu vào độ tuổi cuối vị thành niên — đầu trưởng thành, thường diễn biến khó lường và mãn tính. Trong số 40 bệnh nhân mẫu mắc chứng OCD được điều trị tại Bệnh viện Đại học Quốc gia Singapore, 22 người là nam, và 80% số người có triệu chứng cả về ám ảnh lẫn hành vi cưỡng chế.

Nỗi sợ hãi bị nhiễm khuẩn là điều thường gặp nhất (60%); những chủ đề gây ám ảnh khác bao gồm sự cân đối và hoàn hảo (25%), bạo lực (10%) và tôn giáo (10%). Nghiên cứu phương pháp trị liệu hành vi áp dụng cho bệnh nhân rối loạn ám ảnh- cưỡng chế thấy răng phần lớn đều thành công nếu hoàn thành cả khóa điều trị và người bệnh có dấu hiệu tích cực ngay khóa điều trị đầu tiên kết thúc. Cũng theo nghiên cứu này,với hơn 300 bệnh nhân điều trị theo phương pháp "đối diện và đáp trả" có 76% chữa khỏi sau từ 3 tháng đến 6 năm. Một nghiên cứu khác cung cấp bằng chứng mới về hiệu quả của phương pháp trị liệu hành vi nhận thức.

Phương pháp trị liệu hành vi nhận thức khác với trị liệu hành vi ở chỗ nó nhắn mạnh đến sự thay đổi các mẫu niềm tin và suy nghĩ. Các nghiên cứu về sau nhắc nhở răng trị liệu hành vi nhận thức cần được đánh giá đúng mức. Trong một nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên hiệu quả của liệu pháp nhận thức- hành vi theo nhóm với liệu pháp nhận thức- hành vi đối với cá nhân mắc OCD trên 110 bệnh nhân OCD điều trị ngoại trú được chỉ định 15 buổi trị liệu CBT theo nhóm hoặc theo cá nhân. Đo lường về kết quả trước và sau trỊ liệu, cũng như theo dõi 6- 12 tháng sau đó, người ta tìm thấy hệ số ảnh hưởng trung bình thiên về CBT cá nhân hơn là nhóm sau điều trị.

Mặc dù hệ số ảnh hưởng và mức độ ồn định được tìm thấy trong cả hai tình trạng điều trị mà nghiên cứu đề cập đến và điều trị OCD băng liệu pháp nhóm cũng mang đến ý nghĩa đáng kể và được gợi ý mang đến lợi ích tiết kiệm thời gian hơn.[28] Một bài báo nghiên cứu về thử thách trong điều trị OCD cho thấy, can thiệp nhận thức cũng nhận được sự chú ý từ các nhà lâm sảng và nghiên cứu. Nhiều nha trị liệu hiện nay kết hợp kỹ thuật phơi nhiễm và các kỹ thuật nhận thức, trong đó những niềm tin liên quan đến OCD được đánh giá và sửa đổi. Nghiên cứu cũng đề cập đến việc điều trị phẫu thuật thần kinh, các can thiệp y khoa chuyên sâu như: phẫu thuật cắt bỏ nang, kích thích não,. tồn tại những nguy hiểm của tác dụng phụ và là lựa chọn phương pháp cuối cùng.

Những triệu chứng đa dạng ngoại lệ và các tình trạng gây bệnh tật kèm theo của OCD tạo nên những thử thách đáng kế với những nhà lâm sàng chữa trị rối loạn này.[32] Một nghiên cứu khác về chiều kích triệu chứng và kết quả của liệu pháp nhận thức- hành vị đôi với rôi loạn ám ảnh- cưỡng chê của các bệnh nhi, với nhóm 8 92 trẻ em và trong độ tuổi thanh thiếu niên mắc OCD (7- 19 năm) nhận được 14 buổi trị liệu CBT hàng tuần. Đánh giá thực hiện khi bắt đầu và sau trị liệu dựa trên ấn tượng lâm sàng tổng quát, điểm số thang ám ảnh- cưỡng chế của Yale Brown dành cho trẻ em. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, có những bằng chứng cho thấy bệnh nhân có nghỉ thức kiểm tra và ám ảnh làm hại có đáp ứng tốt hơn với CBT.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.1 Khái niệm trị liệu Theo Từ điền thuật ngữ Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên (2008), trị liệu tâm lý là sự trợ giúp tâm lý cho những người có khó khăn tâm lý khác nhau. Trị liệu tâm lý là tổ hợp những tác động trị liệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ lên cảm xúc, ý kiến, tự ý thức của những người có bệnh tâm lý thần kinh và bệnh tâm thể.Trị liệu tâm lý là tổ hợp những tác động tâm lý đa dạng nhăm khắc phục những sai lệch quá mức và chữa trỊ bệnh.

Nhìn chung, trị liệu tâm lý có ảnh hưởng đến tâm lý, trong đó có mối quan hệ với bản thân, đến trạng thái của bản thân người bệnh, đến người khác, với môi trường xung quanh và với cuộc sống nói chung. Trị liệu tâm lý có thể ở các dạng liệu pháp tâm lý cá nhân (tham vấn cá nhân) và liệu pháp nhóm (các trò chơi, các cuộc thảo luận,. Người ta đã phân biệt một cách có điều kiện các trị liệu tâm lý sau: I)_ Trị liệu tâm lý định hướng, chủ yếu là nhăm giảm bớt hoặc xóa bỏ những triệu chứng hiện có và liệu pháp tâm lý định hướng nhân cách, có nhiệm vụ giúp đỡ người bệnh thay đổi những mối quan hệ của họ đối với môi trường xã hội và nhân cách của mình; 2) Các phương pháp trị liệu tâm lý lâm sàng- thôi miên, luyện tập tự thư giãn, ám thị và tự ám thị, liệu pháp duy lý; 3) Trị liệu tâm lý định hướng nhân cách (trị liệu tâm lý cá nhân và trị liệu tâm lý nhóm) được sử dụng rộng rãi những dị bản khác nhau để phân tích những trải nghiệm xung đột ở người bệnh. Trong trị liệu tâm lý cá nhân, hiệu quả chữa trị phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng mối quan hệ tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau 9 giữa nhà trị liệu và đối tượng chữa trị (khách hàng) cũng như khả năng làm việc của nhà trị liệu, trong đó khả năng thấu cảm là nhân tố quyết định tính hiệu quả của những tác động trị liệu.

Trị liệu tâm lý nhóm là việc sử dụng những quy luật tâm lý của quan hệ liên nhân cách trong nhóm nhăm đạt được những tiến triển tâm lý và thể chất tích cực cho mỗi thành viên trong nhóm. Với tư cách là những phương pháp tác động trị liệu tích cực, các liệu pháp lao động, liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháp gia đình đã được sử dụng rộng rãi để tạo điều kiện nâng cao uy tín của khách hàng trong các mối quan hệ liên nhân cách, hoàn thiện khả năng tự nhận thức và tự điều chỉnh của chính họ.2 Khái niệm rối loạn Trong điều trị các rối loạn tâm thần, trị liệu tâm lý, rỗi loạn được sử dụng để nói đến các rối loạn tâm thần từ nhẹ đến nặng. Theo Từ điển thuật ngữ Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên (2008), rối loạn là sự đảo lộn cấu trúc của một cái gì đó; đảo lộn trật tự của một trạng thái bình thường; gây thiệt hại cho một cái gì đó; là sự hỗn loạn hay là trạng thái bệnh lý làm đảo lộn trật tự của một trạng thái bình thường của con người. Rối loạn tâm thần thường được phân biệt với rối nhiễu tâm lý hay các rối nhiễu tâm căn.

Rối nhiễu tâm căn là một trong hai nhóm lớn của tâm bệnh người lớn. Nhóm còn lại là các bệnh loạn thần. Ménéchal (1999) định nghĩa bệnh tâm căn là những bệnh thuộc về nhân cách, đặc trưng bởi việc những xung động nội tâm làm thay đổi mối quan hệ của chủ thể với môi trường, băng cách tạo ra những triệu chứng đặc hiệu luôn mang màu sắc sợ hãi. Bệnh tâm căn là kết quả của quá trình đấu tranh kéo dải của xung đột nội tâm và sự chống trả của chủ thé.

Theo cach nao đó, nó là một giải pháp để chủ thể đối phó với những khó khăn gặp phải trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Điểm đặc trưng cần lưu ý của các rối nhiễu tâm căn là bệnh nhân vẫn ý thức được bệnh của mình và không đánh mất mối liên hệ với thực tế, sự thực. Bệnh nhân có thể cảm nhận được nỗi đau khổ của bản thân, luôn luôn tìm cách giải quyết vấn đê, luôn tìm cách thoát khỏi nối sợ hãi. 10 Tất cả các loại rối nhiễu tam can déu co chung nhiing biéu hién lam sang sau day: - Khó khăn trong các mối quan hệ với người khác: Những người xung quanh thường có cảm giác bệnh nhân là một người khó tính, tính khí bất ôn, có chấp.

- Su xuat hién bat ngờ của cơn sợ hãi: bệnh nhân luôn cảm thấy không an toàn và quá nhạy cảm trước bất cứ yêu tố nào thuộc về bên ngoài. Nỗi sợ hãi tác động đến tất cả các khía cạnh cơ thể, nhận thức, cảm xúc và hành vi của bệnh nhân. - Luôn có cảm giác khó chịu: bởi luôn sợ hãi khi hình dung ra bản thân trong các tình huống xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ