MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Theo thống kê của Bộ Lao động, Thơng binh và Xã hội, chỉ tính riêng trong tháng 4-2020 (thời gian thực hiện giãn cách xã hội), Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 đã tiếp nhận 750 cuộc gọi đề nghị trợ giúp, trong đó hơn 200 cuộc cần sự can thiệp về bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em và những vấn đề liên quan đến sang chấn tâm lý. [13] Căng thẳng do học tập, thiếu sự hỗ trợ và hoặc môi trong hoc dong bat ôn, và gặp trở ngại trong các mỗi quan hệ tình cảm là những yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên. Trẻ tự đặt kỳ vong rất cao đối với bản thân, phải vợt trội so với bạn bè, và do áp lực của gia đình muốn các em đạt thành tích tốt.
Murray Bowen (1975) là ngời để ra lý thuyết coi gia đình nh một hệ thống tâm lý thống nhất, trong đó các thành viên lệ thuộc, ảnh hởng lẫn nhau một cách chặt chẽ cả về cảm xúc, suy nghĩ và hành vi. Sự ảnh hởng này tác động khiến cho các thành viên trong gia đình thay đổi liên tục, trong đó ông đa ra lý luận về quá trình phóng chiếu gia đình đề giải thích hiện tong van dé tâm lý của bố mẹ sẽ truyền qua cho con cái của họ [14]. Nh vậy, vấn đề cuộc sống của ngời lớn bao giờ cũng sẽ ảnh hởng lên cuộc sống của những đứa trẻ, đồng thời đối với những trẻ thuộc giai đoạn giữa của lứa tuôi vị thành niên, lứa tuổi đang cô gắng khẳng định tính độc lập, “sự kiểm soát” của cha mẹ đợc xem nh là một căn nguyên chính dẫn đến tình trạng căng thăng ở trẻ. Trong nghiên cứu mang tính trờng hợp này, chúng tôi đa ra những lý luận tâm lý khoa học về mối quan hệ từng thành viên trong gia đình sẽ ảnh hởng đến sự hình thành và phát triển tâm lý của từng cá nhân nh thế nào? Nếu nh một cá nhân có rồi loạn chức năng gia đình sẽ có những biểu hiện nh thế nào và làm thế nào để hỗ trợ tâm lý cho những cá nhân nh vậy.
Kết quả nghiên cứu mong muốn đem lại những lý luận khoa học về rối loạn chức năng gia đình và hỗ trợ tâm lý trong một trong hop điển hình, từ đó chúng tôi chọn đề tài: “Can thiện tâm lí cho một trẻ có rồi loạn chức năng gia đình". Nhiệm vụ nghiên cứu Điểm luận một số lý luận về rối loạn chức năng gia đình, rối loạn lo âu lan tỏa và điều trị rối loạn lo âu lan tỏa bằng liệu pháp tâm lí. Đánh giá tâm lý cho một trờng hợp một trẻ có rối loạn lo âu lan tỏa sinh ra trong môi trờng có rối loạn chức năng gia đình. Áp dụng các liệu pháp tâm lí đối với trờng hợp một trẻ có rối loạn lo âu lan tỏa sinh ra trong môi trờng có rối loạn chức năng gia đình.
Đánh giá hiệu quả của liệu pháp tâm lí đối với một trờng hợp một trẻ có rối loạn lo âu lan tỏa sinh ra trong môi trờng có rối loạn chức năng gia đình. Đa ra kết luận và kiến nghị cho ca lâm sàng. Khách thế nghiên cứu Trờng hợp một trẻ có rối loạn tâm trí sinh ra trong môi trờng có rối loạn chức năng gia đình. Phạm vi nghiên cứu Can thiệp cho một trẻ có rối loạn tâm trí sống trong một gia đình có rối loạn chức năng trong đó trọng tâm can thiệp cá nhân cho thân chủ mà cha can thiệp vào hệ thống gia đình.
PhơJơng pháp nghiên cứu Phơng pháp nghiên cứu tài liệu. Phơng pháp quan sát. Phơng pháp hỏi chuyện lâm sàng. Phơng pháp nghiên cứu trờng hợp.
Phơng pháp nghiên cứu tiêu sử cuộc đời. Phơng pháp đánh giá hiệu quả can thiệp. Phơng pháp trắc nghiệm/ thang do. MOT SO VAN DE LY LUAN VE ROI LOAN CHỨC NĂNG GIA DINH, ROI LOAN LO AU LAN TOA VA TRI LIEU TAM LY 1.
Tổng quan về rối loạn chức năng gia đình 1. Các nghiên cứu ở nớc ngoài Các vấn đề hành vi của trẻ em đã đợc nghiên cứu tại nhiều quốc gia khác nhau có nhiều yếu tố bị ảnh hởng bởi những nền văn hóa khác nhau nhng cũng có những nét đặc điểm trung mang nét tâm lý ngời. Trong dé tài, nghiên cứu các yếu tô gia đình liên quan đến các vấn đề về hành vi của trẻ em nhóm 6-18 tuôi của Sandip S Jogdandvà JD Naik năm 2014 có đa ra kết quả cho thấy mối liên hệ đáng kể giữa tỷ lệ phổ biến các vấn đề về hành vi với việc vắng mặt hoặc cả cha và mẹ và chứng nghiện rợu ở cha mẹ hoặc ngời chăm sóc. Các vấn đề về hành vi có tiên lợng tốt nếu chúng đợc nhận biết sớm hơn.
Gia đình có vai trò to lớn trong việc ngăn ngừa các vấn đề về hành vi ở trẻ em, vì vậy sy t van của cha mẹ có thể hữu ích. [16] Ngoài ra, nghiên cứu trên cũng cung cấp các thông tin nh mối liên hệ giữa việc mất cha mẹ và tỷ lệ phổ biến các vấn đề về hành vi. Hầu hết các nghiên cứu liên quan đến bệnh tâm thần và rối nhiễu tâm lý đã chỉ ra mối tơng quan đáng kê giữa hình ảnh ngời cha mờ nhạt ở trẻ em. Srinivasan và Raman trong nghiên cứu của họ ớc tính nguy cơ mắc bệnh tâm thần tăng gấp 9,32 lần ở trẻ em xa cách cha mẹ lâu dài.
Deivasigamani (1989) tìm thấy cha vắng mặt ở hầu hết trẻ em mắc bệnh tâm thần. Prat (2003) tuyên bố rằng sự mất mát của cha mẹ có liên quan đến các vấn đề tâm lý xã hội và sức khỏe tâm than đáng kế ở thanh thiếu niên. [16] Cha mẹ là ngời hớng dẫn và là ngời thầy đầu tiên trong cuộc đời của trẻ nhỏ. Họ đáp ứng các nhu cầu về thể chất và tình cảm cũng nh hỗ trợ xã hội và tâm lý cho con họ.
Sự hiện diện của cha mẹ làm tăng nhận thức an toàn ở trẻ, giúp trẻ không bị áp lực nhóm bạn đồng trang lứa hoặc ảnh hởng của thế giới bên ngoài. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng dò ở bat kỳ nền văn hóa nào sự thiếu vắng cha mẹ, hoặc hình ảnh cha mẹ mờ nhạt đều dẫn đến các vấn đề tâm trí của trẻ em. Đặc biệt nếu nh trong gia đình không có sự liên kết an toàn tích cực sẽ khiến cho trẻ em hình thành các mẫu hành vi cha phù hợp với cuộc sống. Các nghiên cứu trong nớc Năm 2011, nghiên cứu về ““Sức &hỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên tại một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu và Phát triển (ODI) tiến hành và hỗ trợ kỹ thuật là một trong những hoạt động thuộc khuôn khổ chơng trình hợp tác giữa UNICEF Việt Nam và Bộ Lao động, Thơng binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) đã đề cập đến thông tin nghiên cứu trong 972 học sinh phổ thông (2013) phát hiện rằng sự gắn kết của cha là một yếu tố bảo vệ cho học sinh cả nam và nữ khỏi những suy nghĩ về tự tử.
Đáng chú ý, nguy cơ có ý định tự tử cao hơn ở nữ không nhận đợc hỗ trợ tình cảm từ phía gia đình so với những ngời nhận đợc hỗ trợ tình cảm từ mẹ/cha hoặc anh em trai/chị em gái. [11] Trong còng nghiên cứu trên, tác giả đa ra tổng quan các bằng chứng về sức khỏe tâm thần ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung đối với trẻ em và vị thành niên ở Việt Nam dao động từ 8% đến 29% và khác nhau theo tỉnh, giới tính, đặc điểm ngời trả lời và tùy thuộc vào phơng pháp nghiên cứu. Một khảo sát dịch tễ học gần đây trên mẫu đại diện quốc gia của 10 trong số 63 tỉnh/thành phố cho thấy tỷ lệ trung bình các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em khoảng 12%, đồng nghĩa với việc hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu về các dịch vụ sức khỏe tâm thần. Các loại hình vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất trong trẻ em Việt Nam là các vấn đề hớng nội (lo âu, trầm cảm, đơn độc) và vấn đề hớng ngoại (tăng động.
[1 1] Theo nghiên cứu của UNICEE năm 2016 cho thấy bạo lực với trẻ em trong gia đình phổ biến ở Việt Nam mặc dù đã có pháp luật bảo vệ. Trẻ em trong các gia đình có bạo luc thong miéu ta cdc hình thức bạo lực khác nhau mà các em phải chứng kiến nh bạo lực giữa cha mẹ, hoặc bạo lực về thê xác và tinh thần mà các em là nạn nhân và các em cảm thấy bị cha mẹ xao lãng. Việc các yếu tố nh nghèo khổ và những áp lực do khó khăn về tài chính đã làm căng thẳng các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình nh thế nào, cũng nh các nhân tố góp phần vào khả năng gây ra bạo lực tại gia đình. [12] Thông qua đề tài nghiên cứu trong nớc cho thấy các vấn đề về sức khỏe tâm thần ở trẻ em và trẻ vị thành niên trong các gia đình tại Việt Nam bị ảnh hởng bởi các yếu tô nh phân biệt giới tính, ngời nắm giữ vai trò kinh tế trong gia đình, vị trí thứ tự con trong gia đình.
Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đi sâu vào phân tích và hỗ trợ can thiệp tâm lý cho một tình huống cụ thể rối loạn chức năng gia đình có biểu hiện của sự xao nhãng bỏ rơi về mặt tâm lý của bố mẹ dẫn đến các rối loạn tâm trí. Một số lý luận về rối loạn chức năng gia đình 1. Khái niệm, biêu hiện và nguyên nhân của rối loạn chức năng gia đình 1.1 Khái niệm về gia đình và chức năng gia đình - Gia đình Có rất nhiều quan điểm về gia đình, trong từ điển tâm lý của Nguyễn Khắc Viện thì gia đình gồm bố mẹ con và có hay không một số ngời khác cùng chung sống trong một nhà [10]. Mỗi thành viên trong gia đình có thể là những ngời cùng huyết thống hoặc những ngời khác đang sống trong cùng một gia đình.
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm về gia đình theo quan điểm của Nguyễn Minh Tiến đợc định nghĩa nh sau: Gia đình đợc định nghĩa nh là một nhóm ngời, có còng quan hệ dòng máu hoặc còng huyết thống và cùng c trú.