phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục tâm thế vào lớp 1 cho trẻ ở các trường mầm non. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục tâm thế vào lớp 1 cho trẻ ở các trường mầm non tại thị xã iện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục tâm thế vào lớp 1 cho trẻ ở các trường mầm non tại bàn thị xã iện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TÂM THẾ VÀO LỚP 1 CHO TRẺ Ở CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Sự chuyển tiếp giữa giáo dục Mầm non với chương trình giáo dục ở Tiểu học đặt ra cho chúng ta những vấn đề cần quan tâm: Chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 nhằm đảm bảo tính liên tục, kế thừa trong sự phát triển. Sự phát triển của trẻ là một quá trình phát triển liên tục và thống nhất qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn phát triển mang những đặc điểm riêng, từ giai đoạn này sang giai đoạn khác là một sự thay đổi lớn cả về lượng và chất.
Sự phát triển của trẻ ở một giai đoạn vừa là kết quả vừa là tiền đề, cơ sở cho sự phát triển ở giai đoạn sau. Nếu trẻ được phát triển tốt ở giai đoạn trước cũng chính là sự chuẩn bị tốt cho giai đoạn tiếp theo này. ây cũng chính là quan điểm chỉ đạo của ngành học Mầm non nhằm đảm bảo sự chuyển giai đoạn giữa GDMN nói chung, giáo dục trẻ 5 tuổi nói riêng với giáo dục trẻ lớp 1 trong giai đoạn hiện nay. Thực trạng hiện nay, vẫn còn nhiều quan niệm sai lầm trong việc giáo dục tâm thế cho trẻ vào lớp 1.
Một số phụ huynh học sinh lại lầm tưởng rằng để cho trẻ học tập tốt ở trường Tiểu học cần dạy trước cho trẻ như: tập viết, tập đọc, tập làm toán, học ngoại ngữ… Nhưng kết quả là đứa trẻ không đủ sức tiếp thu những tri thức trên hoặc có tiếp thu được thì trẻ lại tỏ ra chán nản và không tập trung khi phải học lại những kiến thức ấy ở lớp 1. Nhiều phụ huynh nôn nóng sợ con không theo kịp các bạn nên cho trẻ học chữ, học tính toán với mong muốn con mình đọc thông, viết thạo bất chấp nguyên tắc đòi hỏi sự phù hợp với đặc điểm, hình thái chức năng tâm sinh lý của trẻ ở lứa tuổi này. Bên cạnh đó, một số phụ huynh quá ỷ lại vào trường mầm non, cứ giao phó trẻ cho giáo viên. Vì thế cũng không tạo được sự thống nhất trong công tác giáo dục trẻ, do đó hiệu quả của việc giáo dục tâm thế cho trẻ vào lớp 1 không cao.
Việc giáo dục tâm thế cho trẻ vào lớp 1 luôn luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà Giáo dục học và Tâm lý học trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Bianka Zazzo với công trình nghiên cứu “ Bước chuyển lớn từ Mẫu giáo lên lớp 1” đã góp phần quan trọng làm sáng tỏ thêm việc chuẩn bị về các mặt nói chung của trẻ Mẫu giáo lớn. ồng thời, bà càng làm rõ hơn những vấn đề khó khăn của học sinh lớp 1 ở nước Pháp. Công trình của bà ít giải quyết các vấn đề lý luận mà nhằm vào giải quyết các mặt thực tiễn của vấn đề [Dẫn theo 2] Bên cạnh đó, nghiên cứu của C.Sukina đề cập đến vấn đề thích ứng của học sinh lớp 1.
Bà cũng cho rằng học sinh lớp 1 có gặp khó khăn tâm lý khi đến trường Tiểu học. Nghiên cứu của bà đã chỉ ra rằng sự thích ứng của trẻ 5 tuổi với hoạt động học tập là không như nhau và có 3 trình độ: cao, trung bình và thấp với những biểu 6 hiện cụ thể. Bà cũng chỉ ra phương pháp tác động sư phạm ở trường mẫu giáo và trường tiểu học ảnh hưởng lớn tới sự thích ứng của trẻ. Bà cho rằng, để giúp trẻ thích ứng tốt với hoạt động học tập cần có giai đoạn quá độ mà ở đó phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi và quan hệ cô cháu của trường mẫu giáo được duy trì trong nửa năm đầu lớp 1.
Công trình ECLS - K (Early Childhood Longitudinal Study, Kingdergarten Class of 1998 - 1999, US - Nghiên cứu dọc theo tuổi ấu thơ của trẻ, lớp mẫu giáo năm 1998 - 1999, Mỹ) nhằm 3 mảng vấn đề lớn là: Thực trạng và xu thế phát triển của trẻ. Việc học và khả năng thực hiện ở các lớp đầu tiểu học. Tương tác giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng. Trong các chuẩn này đề cập những lĩnh vực phát triển của trẻ, học sớm là ý tưởng gần với khái niệm chuẩn bị cho trẻ đi học và nó gồm các lĩnh vực ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội, thể chất và vận động [5].
ã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục. Các nhà nghiên cứu Xô viết trong những công trình của mình đã chỉ ra vai trò quan trọng của quản lí hoạt động giáo dục. Họ khẳng định rằng: Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý các công việc của đội ngũ giáo viên.Xukhômlinxki đã đưa ra một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục của hiệu trưởng trong nhà trường như: Phải có sự phân công hợp lý công việc trong Ban giám hiệu (giữa hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng). Thường xuyên quan tâm xây dựng và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiêp vụ cho đội ngũ giáo viên.
Tổ chức dự giờ và phân tích bài giảng, rút kinh nghiệm [41] Tại Thái Lan, từ 1998, ngành giáo dục đã quan tâm tới việc bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Ở Mĩ, bắt đầu vào giữa thập kỷ 80, những quan tâm sâu sắc về vấn đề giáo viên trong trường học của nhiều nhà nghiên cứu đã được nhà nước và các cơ sở tư nhân tài trợ. Báo cáo năm 1987 của Tổ hợp Carregie “Chương trình Quốc gia chuẩn bị giáo viên cho thế kỷ XX ” đã dẫn tới việc lập ra Vụ Quốc gia Mĩ về chuẩn nghề nghiệp giáo viên với nhiệm vụ nâng cao chuẩn dạy học cũng như thành tích học tập của học sinh trên toàn quốc. Cơ quan này bắt đầu cấp bằng cho giáo viên vào năm 1995.
Dự án Việt - Bỉ (hỗ trợ học từ xa) đã dịch và giới thiệu ở Việt Nam một số công trình, trong đó có cuốn sách " Dạy và học tích cực. Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học " của Michel Develay có nội dung được trình bày theo trình tự logic Học => Dạy => ào tạo giáo viên, trong đó việc đào tạo giáo viên bao gồm nhiều vấn đề về 7 quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp. ó là một cuốn sách nhằm góp phần đổi mới sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ngày càng tốt hơn [5] 1. Những nghiên cứu ở trong nước Nhân dịp năm học mới 16-10-1968, trong thư gửi cán bộ, giáo viên, công nhân viên, học sinh, sinh viên, Bác Hồ đã khẳng định: “ Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của ảng và nhân dân ta, do đó các ngành, các cấp ảng và chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới”.
[23] Trong bối cảnh giáo dục quốc tế và trong nước có nhiều thay đổi và phát triển, nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành trung ương ảng đã nhấn mạnh: “ bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập quốc tế”. Test “ ến tuổi học” cũng được tác giả Phan Trọng Ngọ và Dương Diệu Hoa sử dụng nghiên cứu đề tài: “Thử nghiệm Test ến tuổi học ở trẻ chuẩn bị vào lớp 1” [29]. Những công trình nghiên cứu trên đã góp phần phát triển khoa học quản lý giáo dục ở nước ta. Những khái niệm cơ bản về quản lí, quản lí giáo dục, quản lí trường học, quản lí hoạt động chuyên môn.
đã ngày càng được làm sáng tỏ. Vấn đề quản lí hoạt động giáo dục cho trẻ 5 tuổi cũng đã được các nhà khoa học, các nhà quản lí quan tâm nghiên cứu trong các công trình “ Nghiên cứu khoa học cho việc nâng cao chất lượng thực hiện chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ 3 - 6 tuổi trong trường mầm non” của Lê Thị Thu ương. ề tài đề cập đến một số vấn đề về quan điểm, nguyên tắc đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ, một số định hướng đổi mới chương trình, xây dựng mô 9 hình nâng cao chất lượng 8 chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo trong trường mầm non vùng miền núi [15] Có một số tác giả đã nghiên cứu đến vấn đề này và kết quả đó được công bố trên một số tạp chí chuyên ngành, tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu chung trên toàn quốc chỉ ngừng lại ở việc nghiên cứu quá trình chuẩn bị cho trẻ đến trường ở tuổi Mẫu giáo lớn. Năm 1988 trong tài liệu “Tâm lý trẻ em trước tuổi học” và với giáo trình bồi dưỡng giáo viên mầm non “Giáo dục tâm thế cho trẻ 5 tuổi vào trường phổ thông” xuất bản năm 1998, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết và cộng sự đã chỉ rõ ý nghĩa của việc giáo dục tâm thế cho trẻ vào trường phổ thông, yêu cầu và nội dung giáo dục tâm thế cho trẻ.
Trong nhiều bài viết khác, tác giả cũng cho rằng nếu việc giáo dục tâm thế không phù hợp sẽ gây những hậu quả đáng tiếc khi trẻ vào lớp 1. Nguyễn Ánh Tuyết đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu những quan điểm khoa học cũng như các vấn đề cơ bản trong hoạt động của học sinh Tiểu học từ đó đưa ra những mặt cần giáo dục tâm thế cho trẻ 5 tuổi vào lớp 1 [36] Tác giả Vũ Thị Nho cũng dành nhiều thời gian nghiên cứu các giai đoạn phát triển để nghiên cứu các giai đoạn phát triển của học sinh.