Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Vũ Thị Diệu Thúy dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Thị Minh Liên, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2023, thuộc chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục Mầm non), mã số chuyên ngành: 9.01.

Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất và là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội của con người. Đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, việc hình thành kĩ năng định hướng thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm chuẩn bị tâm thế, nếp sống văn minh, hình thành tác phong nhanh nhẹn, biết quản lý hành động và tiết kiệm thời gian để thích ứng với hoạt động học tập nghiêm túc ở trường tiểu học. Hoạt động trải nghiệm giúp người học tiếp xúc trực tiếp với đối tượng, từ đó trực quan hóa các khoảng thời gian trừu tượng, tạo tiền đề để trẻ lựa chọn nhiệm vụ và tự điều chỉnh tốc độ hoạt động cho phù hợp.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ thực tế công tác giáo dục mầm non: các chương trình và hoạt động dạy học hiện nay chủ yếu tập trung vào việc cho trẻ nhận biết các mốc thời điểm, tính chu kì của các buổi trong ngày (sáng, trưa, chiều, tối), các ngày trong tuần hoặc các mùa trong năm, trong khi chưa quan tâm đúng mức đến nội dung giáo dục xác định các khoảng thời gian ngắn (tính bằng phút). Trẻ ít có cơ hội tri giác thời lượng thực tế, dẫn đến việc sử dụng thời gian còn lãng phí, hiệu quả hoạt động chưa cao. Việc giáo dục định hướng thời gian ở trường mầm non còn nặng về hình thức, chưa gắn với giá trị thực tế của việc sử dụng thời gian trong sinh hoạt của trẻ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề xuất hệ thống biện pháp giáo dục kĩ năng định hướng thời gian qua trải nghiệm cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non, nhằm phát triển ở trẻ các kĩ năng nhận biết, ước lượng thời gian và thực hiện nhiệm vụ phù hợp với thời gian quy định.

Giả thuyết khoa học của đề tài bao gồm hai nội dung:

  1. Kĩ năng định hướng thời gian của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi hiện nay còn hạn chế do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về biện pháp giáo dục trẻ ở trường mầm non.
  2. Nếu sử dụng đồng bộ các biện pháp giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo hướng xây dựng môi trường phù hợp với các hoạt động định hướng thời gian, lập kế hoạch, tổ chức và đánh giá các hoạt động cho trẻ tham gia trải nghiệm sử dụng thời gian thì kĩ năng xác định và ước lượng các khoảng thời gian, xác định mối quan hệ thời gian và thực hiện nhiệm vụ phù hợp với thời gian quy định của trẻ sẽ được nâng cao.

Luận án thực hiện bốn nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm.
  2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm.
  3. Đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm.
  4. Tiến hành thực nghiệm các biện pháp giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm mà luận án đề xuất.

Khách thể nghiên cứu là quá trình giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm. Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm.

Giới hạn và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Nội dung nghiên cứu: Tập trung vào ba nhóm kĩ năng thành phần của kĩ năng định hướng thời gian (xác định và ước lượng các khoảng thời gian; xác định các mối quan hệ, liên hệ về thời gian; thực hiện hoạt động phù hợp với thời gian quy định) thông qua các hoạt động học, hoạt động chơi và hoạt động lao động ở trường mầm non.
  • Khách thể khảo sát thực trạng: 195 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi; 124 giáo viên dạy trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thuộc 13 tỉnh và thành phố (Lào Cai, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Phủ Lý, Ninh Bình, Nghệ An, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Thủ Dầu Một, Sóc Trăng, Kiên Giang); 195 cha mẹ trẻ học tại ba trường mầm non tham gia khảo sát.
  • Khách thể thực nghiệm: 14 giáo viên mầm non (Trường Mầm non 1 có 6 giáo viên, Trường Mầm non 2 có 4 giáo viên, Trường Mầm non 3 có 4 giáo viên) và trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (vòng 1 gồm 50 trẻ; vòng 2 gồm 100 trẻ, chia thành 50 trẻ nhóm thực nghiệm và 50 trẻ nhóm đối chứng; cùng 3 trẻ tham gia nghiên cứu trường hợp).
  • Địa bàn và thời gian nghiên cứu: Khảo sát thực trạng diễn ra từ ngày 02/01/2019 đến ngày 08/03/2019 tại Trường Mầm non Tân Thành (khu vực thành phố), Trường Mầm non Ninh Tiến (khu vực ven đô) và Trường Mầm non Khánh Thịnh (khu vực nông thôn) thuộc tỉnh Ninh Bình. Thực nghiệm thăm dò tiến hành từ ngày 11/03/2019 đến ngày 31/05/2019 tại Trường Mầm non Ninh Tiến; thực nghiệm chính thức tiến hành từ ngày 09/09/2019 đến ngày 17/01/2020 tại Trường Mầm non Tân Thành và Trường Mầm non Khánh Thịnh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các trục nội dung chính:

Về định hướng thời gian của con người và trẻ em: Các nghiên cứu thống nhất thời gian có các thuộc tính: tính vĩnh cửu, tính một chiều từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, tính chu kì, tính liên tục, tính không đảo ngược, tính khách quan và tính trừu tượng. Tác giả phân tích sự chuyển dịch từ các quan niệm triết học duy tâm (Platon, Heraclitus xem thời gian là sự trống rỗng mang tính chủ quan tâm lý) sang quan điểm khoa học tự nhiên của A. Einstein khẳng định tính khách quan của thời gian gắn liền với thế giới vật chất, và quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đối với trẻ mầm non, tác giả Knaus, Sylvie chỉ ra trẻ sơ sinh đã có khả năng cảm nhận và phân biệt các khoảng thời gian khác nhau; D. Casasanto nhận thấy các từ chỉ thời gian ở trẻ có nguồn gốc từ từ chỉ không gian; D. Penkova phân chia sự phát triển cảm nhận thời gian ở trẻ qua các giai đoạn (thích ứng, định hướng, đồng cảm, nhận thức). T. Richterman và Đỗ Thị Minh Liên chứng minh trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi hoàn toàn có thể cảm nhận thời lượng của các đơn vị thời gian như 1, 3, 5, 10 phút, nửa giờ và có thể thực hiện nhiệm vụ trong thời gian quy định; Nguyễn Ánh Tuyết cũng khẳng định khả năng ước lượng khoảng thời gian của trẻ lứa tuổi này.

Về cơ sở sinh lý và tâm lý của định hướng thời gian: F. Teixeira, Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan, Lê Thanh Vân khẳng định cơ sở sinh lý của sự định hướng thời gian dựa trên nhịp sinh học và cơ chế phản xạ có điều kiện của hệ thần kinh theo học thuyết I.P. Pavlov. S. Sylvie, Meck chỉ rõ hoạt động của hạch nền, tiểu não và vỏ não xử lý thông tin về khoảng thời gian. Chizhevsky, Heron J, Yi Gao, B. Cooper đề cao vai trò phối hợp của các giác quan (đặc biệt là thính giác, thị giác và xúc giác) trong việc ghi nhận sự tiếp diễn liên tục của các biến cố. Về mặt tâm lý, J. Piaget, Friedman, David, Mioni, Evans, V. Yuki, Eagleman, Ephimova chỉ ra nhận thức thời gian của trẻ bắt đầu từ trực giác cảm tính, chịu sự chi phối mạnh mẽ của hứng thú, cảm xúc, động cơ hoạt động, sau đó nhờ ngôn ngữ và tư duy logic mới dần hình thành các khái niệm thời gian chuẩn xác.

Về giáo dục qua trải nghiệm: Tác giả điểm lại quan điểm của T. Guseinov, W. James, Carl Jung, F. Platonov, T. Tlegenova và đặc biệt là tư tưởng "học qua làm" (learning by doing) của J. Dewey. Các nhà tâm lý học hoạt động như Aristoteles, X.L. Rubinstein, A.N. Leontiev, cùng các tác giả trong nước như Hoàng Anh, Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Hòa, Hoàng Thị Phương đều khẳng định hoạt động thực tiễn là cội nguồn của nhận thức và nhân cách. Luận án nghiên cứu mô hình học qua trải nghiệm của A. Sharma, mô hình chu trình 4 giai đoạn của D. Kolb và quy trình 4 bước giáo dục dựa vào trải nghiệm cho trẻ mầm non do Hoàng Thị Phương xác lập.

Về quá trình giáo dục kĩ năng định hướng thời gian: A.M. Leusina, R.L. Richterman xác định mục tiêu và nội dung đo lường thời gian, biểu thị thời gian bằng lời nói, điều chỉnh tốc độ hoạt động. Chương trình giáo dục mầm non tại Anh, Úc và Nga (như chương trình "Uốn dẻo nhịp nhàng", chương trình "Zolotoy klyuchik") đã đưa nội dung cho trẻ làm quen với đồng hồ cát, đồng hồ bấm giờ, đo các khoảng thời gian 1-5 phút và rèn kĩ năng ước lượng. Về phương pháp và phương tiện, A. Szecsi, Desk, Copriviza, W. Grace nghiên cứu việc sử dụng mô hình đồng hồ kim, đồng hồ cát, đồng hồ nước và các trò chơi đo thời gian; Đinh Văn Vang, Khắc Trung, Bích Thủy, Hồ Lam Hồng, Nguyễn Thanh Thủy, Vũ Thị Diệu Thúy đề xuất các thí nghiệm và trò chơi dân gian rèn kĩ năng định hướng thời gian; M. Feeney, Đỗ Thị Minh Liên, Trần Thị Hằng nghiên cứu việc tích hợp giáo dục thời gian qua chế độ sinh hoạt và các môn học; E. Jane, D. Penkova, D. Mishina xây dựng các bài tập khảo sát nhận thức thời gian của trẻ.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù các công trình trước đã khẳng định khả năng nhận thức thời gian của trẻ và vai trò của trải nghiệm, song các nghiên cứu chưa chỉ rõ kĩ năng sử dụng lời nói để mô tả các mối liên hệ và quan hệ thời gian (quan hệ thời điểm, quan hệ thời lượng, quan hệ tốc độ); chưa phân tích cụ thể các kĩ năng lập kế hoạch, điều chỉnh tốc độ hành động và rút kinh nghiệm khi thực hiện nhiệm vụ trong khoảng thời gian quy định; đồng thời chưa xây dựng một quy trình hoàn chỉnh để tổ chức giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo chu trình trải nghiệm 4 bước khép kín.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên hệ thống các khái niệm và khung lý thuyết sau:

  • Thời gian: Hình thức tồn tại cơ bản của vật chất, vận động liên tục không ngừng bắt đầu từ một thời điểm, theo trình tự từ quá khứ đến hiện tại rồi đến tương lai và kết thúc ở một thời điểm, diễn ra với tốc độ và thời lượng nhất định. Dấu hiệu cơ bản gồm: thời điểm (mốc khoảnh khắc), thời lượng (số lượng thời gian giữa thời điểm bắt đầu và kết thúc) và tốc độ.
  • Khoảng thời gian (KTG): Phần thời gian được giới hạn từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc một sự việc, biểu thị bằng các đơn vị đo thời gian (giây, phút, giờ, ngày, tuần, tháng, mùa, năm).
  • Định hướng thời gian (ĐHTG): Quá trình cảm nhận thời gian diễn ra sự kiện từ môi trường bên ngoài vào ý thức con người, giúp con người ước lượng được thời gian, xác định mối quan hệ thời gian diễn ra các sự kiện, từ đó thực hiện nhiệm vụ phù hợp với thời gian quy định. Bao gồm định vị thời gian (xác định thời điểm, trình tự) và định lượng thời gian (xác định thời lượng, khoảng thời gian, tốc độ).
  • Kĩ năng định hướng thời gian của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: Năng lực thực hiện có hiệu quả hành động định hướng thời gian, trong đó trẻ xác định được khoảng thời gian diễn ra sự kiện, mối liên hệ và quan hệ thời gian diễn ra các sự kiện để lựa chọn và thực hiện nhiệm vụ phù hợp với thời gian quy định.
  • Khung cấu trúc kĩ năng định hướng thời gian gồm ba kĩ năng thành phần:
    1. Kĩ năng xác định và ước lượng các khoảng thời gian: Xác định khoảng thời gian diễn ra sự kiện trên công cụ đo; chỉ dấu hiệu chuyển động của phương tiện đo (kim đồng hồ, cát chảy); diễn đạt bằng lời nói về dấu hiệu đo; cảm nhận và ước lượng khoảng thời gian không có dụng cụ đo.
    2. Kĩ năng so sánh và xác định mối quan hệ, mối liên hệ thời gian: Xác định mối liên hệ thời điểm (cùng lúc, trước - sau, đầu tiên - tiếp theo - cuối cùng); mối quan hệ thời lượng (mất thời gian như nhau, ít hơn - nhiều hơn, ít nhất - nhiều hơn - nhiều nhất); mối quan hệ tốc độ (nhanh bằng nhau, nhanh hơn - chậm hơn, nhanh nhất - chậm hơn - chậm nhất).
    3. Kĩ năng thực hiện nhiệm vụ phù hợp với thời gian quy định: Lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ (chọn nhiệm vụ, xác định trình tự, tốc độ); điều chỉnh tốc độ hoạt động phù hợp thời gian cho phép; vận dụng kinh nghiệm sử dụng thời gian vào tình huống mới.
  • Quy trình giáo dục qua trải nghiệm: Vận dụng mô hình của D. Kolb và Hoàng Thị Phương gồm 4 giai đoạn nối tiếp: (1) Trải nghiệm thực tế -> (2) Chia sẻ kinh nghiệm -> (3) Rút kinh nghiệm/Khái niệm hóa -> (4) Vận dụng kinh nghiệm vào tình huống mới.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai theo hướng tiếp cận hỗn hợp:

  • Phương pháp định tính: Sử dụng phân tích - tổng hợp lí thuyết, so sánh, hệ thống hóa - khái quát hóa các nguồn tài liệu; phương pháp lấy ý kiến chuyên gia (chuyên gia tâm lý, giáo dục mầm non); phương pháp quan sát (hoạt động của giáo viên và trẻ trong các giờ học, giờ chơi, lao động); phương pháp phỏng vấn sâu đối với giáo viên và cha mẹ trẻ; phương pháp nghiên cứu trường hợp (theo dõi dọc 3 trẻ đại diện cho 3 mức độ kĩ năng cao, trung bình, thấp trong quá trình thực nghiệm).
  • Phương pháp định lượng: Điều tra bằng bảng hỏi đối với 124 giáo viên dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi; đánh giá kĩ năng định hướng thời gian của 195 trẻ mầm non trong khảo sát thực trạng; tổ chức thực nghiệm sư phạm vòng 1 (thăm dò trên 50 trẻ) và vòng 2 (chính thức trên 100 trẻ gồm 50 trẻ nhóm thực nghiệm và 50 trẻ nhóm đối chứng); xử lý dữ liệu số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS, tính toán các chỉ số thống kê mô tả (tần số, tỉ lệ phần trăm %, điểm trung bình ĐTB, độ lệch chuẩn), hệ số tương quan r và kiểm định t-test so sánh sự khác biệt giữa trước và sau thực nghiệm, giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm các văn bản quy phạm và chương trình giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các tài liệu quốc tế về giáo dục thời gian; phiếu khảo sát từ 124 giáo viên và 195 phụ huynh; biên bản quan sát, phiếu chấm điểm bài tập kiểm tra kĩ năng của trẻ tại 3 trường mầm non tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2019-2020.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lí luận của việc giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về bản chất của thời gian, kĩ năng định hướng thời gian và giáo dục qua trải nghiệm. Tác giả phân tích cơ chế sinh lý và tâm lý của việc cảm nhận thời gian ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: lứa tuổi này là giai đoạn phát triển nhạy cảm của giác quan cảm nhận thời gian; trẻ bắt đầu làm chủ thời gian thông qua các hoạt động hàng ngày và sự phối hợp giữa các giác quan (thính giác, thị giác, vận động) dưới sự điều khiển của hệ thần kinh theo cơ chế phản xạ có điều kiện. Nhận thức thời gian của trẻ chuyển dịch từ nói về thời điểm sang diễn đạt thời lượng, trẻ dần có khả năng kiểm soát cảm giác thời gian.

Luận điểm quan trọng của chương là xác lập mô hình ba giai đoạn hình thành kĩ năng định hướng thời gian của trẻ:

  • Giai đoạn 1: Trải nghiệm xác định và ước lượng thời lượng của khoảng thời gian (dựa trên quan sát dụng cụ đo, sau đó hình thành phản xạ ước lượng khi không có dụng cụ).
  • Giai đoạn 2: Xác định các mối liên hệ, mối quan hệ thời gian (so sánh thời điểm, thời lượng và tốc độ của các hoạt động).
  • Giai đoạn 3: Trải nghiệm thực hiện nhiệm vụ trong khoảng thời gian quy định (lập kế hoạch, tự điều chỉnh tốc độ hoạt động để hoàn thành đúng thời gian và rút kinh nghiệm).

Chương 1 cũng làm rõ bản chất của giáo dục kĩ năng định hướng thời gian qua trải nghiệm cho trẻ mầm non, ưu thế của hoạt động trải nghiệm trong việc tạo xúc cảm tích cực và trực quan hóa thời gian; đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng gồm: đặc điểm cá nhân trẻ (hứng thú, trạng thái tâm lý, nhịp sinh học), năng lực của nhà giáo dục (nhận thức, kĩ năng sư phạm) và môi trường giáo dục trong trường mầm non.

Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm

Chương 2 trình bày kết quả điều tra thực trạng từ tháng 01/2019 đến tháng 03/2019 tại ba trường mầm non đại diện cho ba địa bàn của tỉnh Ninh Bình (Trường Mầm non Tân Thành - thành phố, Trường Mầm non Ninh Tiến - ven đô, Trường Mầm non Khánh Thịnh - nông thôn) cùng khảo sát 124 giáo viên tại 13 tỉnh, thành phố.

Thực trạng kĩ năng định hướng thời gian của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi:

  • Mức độ phát triển các kĩ năng của trẻ còn ở mức trung bình và thấp, phân bố không đồng đều giữa các kĩ năng thành phần.
  • Trẻ có khả năng nhận biết thời điểm và tính chu kì tương đối tốt (thông qua các hoạt động sinh hoạt quen thuộc), nhưng gặp khó khăn lớn ở kĩ năng nhận biết thời lượng của các khoảng thời gian ngắn (tính bằng phút) và kĩ năng ước lượng thời gian khi không có công cụ đo.
  • Ở kĩ năng xác định mối quan hệ thời gian, trẻ nhận biết mối liên hệ thời điểm (trước - sau) tốt hơn so với mối quan hệ thời lượng (ít hơn - nhiều hơn) và mối quan hệ tốc độ (nhanh hơn - chậm hơn).
  • Ở kĩ năng thực hiện nhiệm vụ theo thời gian quy định, đa số trẻ chưa biết lập kế hoạch, chưa biết phân bổ tốc độ thao tác phù hợp với độ dài khoảng thời gian cho phép mà phụ thuộc vào sự nhắc nhở của giáo viên.
  • Phân tích tương quan chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa kĩ năng xác định khoảng thời gian với kĩ năng ước lượng và kĩ năng thực hiện nhiệm vụ đúng giờ quy định.

Thực trạng hoạt động giáo dục của giáo viên mầm non:

  • Nhận thức của giáo viên: 100% giáo viên thừa nhận sự cần thiết của việc giáo dục kĩ năng định hướng thời gian, tuy nhiên mức độ hiểu sâu về bản chất kĩ năng, các kĩ năng thành phần và quy trình tổ chức qua trải nghiệm còn hạn chế.
  • Nội dung giáo dục: Giáo viên chủ yếu tập trung vào các nội dung truyền thống có sẵn trong chương trình (dạy thứ tự các mùa, phân biệt ngày và đêm, gọi tên các thứ trong tuần), rất ít khi cho trẻ tiếp cận việc đo lường và cảm nhận các khoảng thời gian ngắn (1, 3, 5 phút).
  • Phương pháp và hình thức: Phương pháp dùng lời và làm mẫu trực quan chiếm ưu thế; giáo viên ít tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực hành có chu trình; việc sử dụng phương tiện đo thời gian rất hạn chế, chủ yếu dùng tranh ảnh minh họa, thiếu vắng các dụng cụ đo trực quan sinh động như đồng hồ cát, đồng hồ bấm giờ.
  • Sự phối hợp gia đình và nhà trường: Cha mẹ trẻ chưa chú trọng rèn luyện kĩ năng sử dụng thời gian cho trẻ tại nhà; phần lớn đồng hồ trong gia đình là đồng hồ điện tử số hoặc đồng hồ kim treo tường ngoài tầm mắt trẻ, thiếu các công cụ trực quan để trẻ theo dõi.
Nội dung khảo sát Khách thể điều tra Địa bàn thực hiện Công cụ khảo sát
Thực trạng kĩ năng ĐHTG của trẻ 5-6 tuổi 195 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi MN Tân Thành, MN Ninh Tiến, MN Khánh Thịnh (Ninh Bình) Hệ thống bài tập tình huống, quan sát hành vi, thang đánh giá 3 mức độ
Nhận thức và thực tiễn tổ chức GD của giáo viên 124 giáo viên mầm non 13 tỉnh/thành phố trong cả nước Phiếu trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, quan sát giờ dạy
Nhận thức và sự phối hợp của cha mẹ trẻ 195 phụ huynh MN Tân Thành, MN Ninh Tiến, MN Khánh Thịnh (Ninh Bình) Phiếu khảo sát ý kiến phụ huynh, phỏng vấn sâu

Chương 3: Biện pháp giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm

Dựa trên cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực trạng, Chương 3 đề xuất hệ thống biện pháp giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm, tuân thủ 5 nguyên tắc sư phạm:

  1. Đảm bảo phù hợp với mục tiêu giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non.
  2. Đảm bảo phù hợp với quá trình hình thành kĩ năng định hướng thời gian của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (theo 3 giai đoạn lý luận).
  3. Đảm bảo tính vừa sức và tính thực tiễn.
  4. Đảm bảo tích hợp giáo dục kĩ năng định hướng thời gian qua nhiều hình thức hoạt động trải nghiệm ở trường mầm non.
  5. Đảm bảo sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ qua trải nghiệm.

Hệ thống biện pháp được phân chia thành ba nhóm:

Nhóm 1: Nhóm biện pháp chuẩn bị các điều kiện giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ qua trải nghiệm

  • Biện pháp 1.1: Xây dựng môi trường giáo dục kích thích sự chú ý và hứng thú của trẻ đối với thời gian (bố trí góc thời gian trong lớp học, trang bị đồng hồ cát các loại 1 phút, 3 phút, 5 phút, mô hình đồng hồ kim di động ngang tầm mắt trẻ, bảng kế hoạch hoạt động ngày/tuần bằng hình ảnh trực quan).
  • Biện pháp 1.2: Lựa chọn, chuẩn bị và hướng dẫn trẻ làm quen với các phương tiện đo thời gian trực quan (khám phá cấu tạo, nguyên lý vận hành của đồng hồ cát, đồng hồ kim, đồng hồ nước, đồng hồ bấm giờ).

Nhóm 2: Nhóm biện pháp tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ qua trải nghiệm

  • Biện pháp 2.1: Tổ chức các hoạt động cho trẻ trải nghiệm cảm nhận và ước lượng các khoảng thời gian ngắn (tính bằng phút) thông qua theo dõi dụng cụ đo kết hợp thực hiện các nhiệm vụ vận động, tạo hình, xếp hình.
  • Biện pháp 2.2: Tổ chức các hoạt động cho trẻ so sánh và xác định các mối liên hệ thời điểm, mối quan hệ thời lượng và mối quan hệ tốc độ trong các trò chơi vận động và thí nghiệm khoa học đơn giản.
  • Biện pháp 2.3: Tổ chức các hoạt động hướng dẫn trẻ lập kế hoạch, lựa chọn nhiệm vụ và tự điều chỉnh tốc độ hoạt động để hoàn thành nhiệm vụ theo khoảng thời gian quy định trong các hoạt động học, hoạt động chơi và hoạt động lao động tự phục vụ.
  • Quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm được thực hiện nhất quán theo 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: Trải nghiệm thực tế (trẻ trực tiếp thao tác với đối tượng gắn với công cụ đo thời gian) -> Giai đoạn 2: Chia sẻ kinh nghiệm (trẻ trao đổi, mô tả những gì đã cảm nhận, đối chiếu kết quả hoạt động với thời gian) -> Giai đoạn 3: Rút kinh nghiệm cho bản thân (giáo viên hỗ trợ trẻ khái quát hóa, nhận ra mối quan hệ giữa tốc độ thao tác và khoảng thời gian) -> Giai đoạn 4: Vận dụng kinh nghiệm vào tình huống mới (giao nhiệm vụ mới với yêu cầu thời gian tương tự hoặc thay đổi để trẻ tự điều chỉnh).

Nhóm 3: Nhóm biện pháp đánh giá kĩ năng định hướng thời gian của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

  • Xây dựng tiêu chí, thang đánh giá và thiết kế các bài tập tình huống thực tế để đánh giá định kì và thường xuyên sự tiến bộ của trẻ ở cả ba kĩ năng thành phần; sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh kế hoạch giáo dục của giáo viên và phản hồi cho cha mẹ trẻ.

Luận án khẳng định ba nhóm biện pháp có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, tương hỗ lẫn nhau: nhóm 1 tạo tiền đề về cơ sở vật chất và tâm lý; nhóm 2 là trọng tâm can thiệp sư phạm; nhóm 3 cung cấp thông tin kiểm soát và hoàn thiện quá trình giáo dục.

Chương 4: Thực nghiệm các biện pháp giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm

Chương 4 mô tả quy trình và kết quả thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết khoa học:

  • Thực nghiệm vòng 1 (thăm dò): Tiến hành từ ngày 11/03/2019 đến ngày 31/05/2019 tại Trường Mầm non Ninh Tiến với 50 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Mục đích nhằm kiểm tra tính phù hợp, tính vừa sức của hệ thống bài tập trải nghiệm và quy trình 4 giai đoạn, từ đó điều chỉnh các biện pháp trước khi thực nghiệm chính thức.
  • Thực nghiệm vòng 2 (chính thức): Tiến hành từ ngày 09/09/2019 đến ngày 17/01/2020 tại Trường Mầm non Tân Thành và Trường Mầm non Khánh Thịnh trên 100 trẻ (50 trẻ nhóm thực nghiệm - TN, 50 trẻ nhóm đối chứng - ĐC) với sự tham gia của 14 giáo viên. Ở nhóm TN, giáo viên áp dụng đồng bộ hệ thống biện pháp do luận án đề xuất; ở nhóm ĐC, giáo viên tổ chức hoạt động giáo dục theo các biện pháp thông thường hiện hành.
  • Nghiên cứu trường hợp: Tác giả theo dõi dọc, quan sát sâu 3 trẻ có mức độ kĩ năng ĐHTG ban đầu khác nhau (cao, trung bình, thấp) trong số trẻ thực nghiệm để phân tích sự chuyển biến tâm lý và hành vi sử dụng thời gian.

Kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 2:

  • Trước thực nghiệm: Kết quả kiểm tra đầu vào cho thấy kĩ năng định hướng thời gian của trẻ ở cả hai nhóm TN và ĐC là tương đương nhau; điểm trung bình (ĐTB) các kĩ năng thành phần không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (giá trị kiểm định t-test cho p > 0.05). Phần lớn trẻ ở cả hai nhóm tập trung ở mức độ thấp và trung bình.
  • Sau thực nghiệm: Trẻ ở nhóm thực nghiệm có sự tiến bộ vượt bậc so với trẻ ở nhóm đối chứng:
    • Tỉ lệ trẻ đạt mức độ cao ở nhóm TN tăng lên rõ rệt ở cả 3 kĩ năng thành phần, tỉ lệ trẻ ở mức độ thấp giảm xuống tối thiểu; trong khi đó ở nhóm ĐC, tỉ lệ chuyển biến giữa các mức độ diễn ra chậm.
    • Điểm trung bình tổng thể và điểm trung bình từng kĩ năng thành phần của nhóm TN đều cao hơn nhóm ĐC một cách rõ rệt. Kiểm định t-test cho thấy sự khác biệt về kết quả giữa nhóm TN và nhóm ĐC sau thực nghiệm có ý nghĩa thống kê cao (p < 0.001).
    • Trẻ nhóm TN có sự tiến bộ rõ nét trong việc nhận biết và sử dụng các từ ngữ chỉ mối quan hệ thời lượng, mối quan hệ tốc độ; biết chủ động quan sát đồng hồ cát hoặc chú ý tín hiệu thời gian để điều chỉnh thao tác nhanh - chậm nhằm hoàn thành bài tập đúng hạn định.
    • Kết quả nghiên cứu 3 trường hợp điển hình xác nhận rằng phương pháp giáo dục qua trải nghiệm đã giúp trẻ khắc phục thói quen mất tập trung, biết ước lượng thời gian và hình thành ý thức quý trọng thời gian trong các sinh hoạt hàng ngày.
Giai đoạn thực nghiệm Thời gian tiến hành Địa bàn thực hiện Mẫu nghiệm thể Mục đích thực nghiệm
Thực nghiệm vòng 1 (Thăm dò) 11/03/2019 – 31/05/2019 Trường MN Ninh Tiến (Ven đô, Ninh Bình) 50 trẻ MG 5-6 tuổi Kiểm tra tính khả thi, độ vừa sức của bài tập và hoàn thiện quy trình tổ chức trải nghiệm
Thực nghiệm vòng 2 (Chính thức) 09/09/2019 – 17/01/2020 Trường MN Tân Thành (Thành phố) & Trường MN Khánh Thịnh (Nông thôn) 100 trẻ MG 5-6 tuổi (50 nhóm TN, 50 nhóm ĐC); 14 giáo viên Đánh giá hiệu quả của hệ thống biện pháp đề xuất thông qua so sánh đối chứng trước và sau thực nghiệm
Nghiên cứu trường hợp Trong quá trình TN vòng 2 Các nhóm thực nghiệm tại trường mầm non 03 trẻ (chọn ngẫu nhiên đại diện 3 mức: cao, trung bình, thấp) Khắc họa chân dung tâm lý và phân tích sâu sự chuyển biến kĩ năng của từng cá nhân trẻ

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lí luận:

  • Bổ sung và làm phong phú thêm hệ thống lý luận giáo dục mầm non về vấn đề giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi theo tiếp cận trải nghiệm.
  • Xác định rõ khái niệm, cấu trúc ba kĩ năng thành phần và các biểu hiện hành vi cụ thể của kĩ năng định hướng thời gian ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, đặc biệt làm rõ vai trò của ngôn ngữ trong việc biểu đạt các mối quan hệ thời gian (thời điểm, thời lượng, tốc độ) và khả năng tự điều chỉnh tốc độ hoạt động của trẻ.
  • Xây dựng mô hình ba giai đoạn hình thành kĩ năng định hướng thời gian và cụ thể hóa quy trình 4 bước giáo dục kĩ năng định hướng thời gian qua trải nghiệm cho trẻ mầm non.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh thực trạng khách quan, toàn diện về mức độ phát triển kĩ năng định hướng thời gian của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục thời gian của giáo viên mầm non tại Ninh Bình cùng 13 tỉnh, thành phố.
  • Đề xuất hệ thống ba nhóm biện pháp đồng bộ (chuẩn bị điều kiện, tổ chức hoạt động theo quy trình 4 giai đoạn, đánh giá) kèm theo các dạng bài tập trải nghiệm cụ thể, có tính ứng dụng cao và phù hợp với điều kiện thực tế của các trường mầm non hiện nay.
  • Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non và sinh viên ngành Giáo dục Mầm non nhằm nâng cao chất lượng lĩnh vực phát triển nhận thức cho trẻ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Đối với các cấp quản lý giáo dục mầm non: Cần rà soát, bổ sung các nội dung giáo dục về khoảng thời gian ngắn (tính bằng phút) và rèn kĩ năng ước lượng thời gian vào chương trình giáo dục mầm non; trang bị bổ sung các phương tiện trực quan đo thời gian (như đồng hồ cát các loại thời lượng, đồng hồ bấm giờ, mô hình đồng hồ kim) vào danh mục thiết bị, đồ chơi tối thiểu cho các lớp mẫu giáo 5-6 tuổi; tổ chức tập huấn chuyên đề về phương pháp giáo dục qua trải nghiệm cho đội ngũ giáo viên.
  • Đối với trường mầm non và giáo viên: Chủ động xây dựng môi trường lớp học giàu yếu tố thời gian; lập kế hoạch tích hợp linh hoạt giáo dục định hướng thời gian vào các hoạt động học, chơi, lao động và sinh hoạt hàng ngày; tuân thủ quy trình 4 giai đoạn khi tổ chức hoạt động trải nghiệm; thường xuyên đánh giá kĩ năng của trẻ để kịp thời điều chỉnh biện pháp tác động sư phạm; đồng thời tích cực phối hợp với phụ huynh hướng dẫn trẻ thói quen sinh hoạt đúng giờ tại gia đình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát sâu về kĩ năng của trẻ và tổ chức thực nghiệm sư phạm chỉ giới hạn tại ba trường mầm non đại diện cho ba vùng (thành phố, ven đô, nông thôn) thuộc tỉnh Ninh Bình; chưa mở rộng thực nghiệm trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù khác (như vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo).
  • Nghiên cứu tập trung chuyên biệt vào độ tuổi mẫu giáo 5-6 tuổi và giới hạn trong ba loại hình hoạt động chính (hoạt động học, chơi, lao động), chưa khảo sát sâu trên các độ tuổi nhỏ hơn trong bậc học mầm non.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng nghiên cứu quy luật hình thành và các biện pháp giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho các độ tuổi mầm non khác (nhóm trẻ nhà trẻ, mẫu giáo bé 3-4 tuổi và mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi) nhằm xây dựng một chương trình giáo dục định hướng thời gian liên tục và đồng bộ trong suốt cấp học.
  • Mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm tại các vùng miền địa lý, văn hóa khác nhau trong cả nước để kiểm chứng tính phổ quát của hệ thống biện pháp.
  • Nghiên cứu ứng dụng các thiết bị công nghệ số và phần mềm trò chơi tương tác giáo dục nhằm hỗ trợ trẻ trực quan hóa và cảm nhận các khoảng thời gian trong kỷ nguyên số.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý giáo dục mầm non tại các Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu các trường mầm non: Sử dụng số liệu thực trạng và các đề xuất của luận án làm căn cứ chỉ đạo chuyên môn, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phương pháp dạy học cho giáo viên và trang bị cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học phù hợp.
  • Giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục Mầm non tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Luận án là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập các học phần "Phương pháp hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non", "Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho trẻ mầm non", cung cấp khung lý thuyết vững chắc về sự phát triển nhận thức thời gian ở trẻ em.
  • Giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp: Có thể khai thác trực tiếp hệ thống bài tập tình huống, cách bố trí góc thời gian trong lớp học, các kĩ thuật sử dụng đồng hồ cát, đồng hồ kim và quy trình 4 bước tổ chức hoạt động trải nghiệm để áp dụng vào thực tế giảng dạy hàng ngày.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Giáo dục học: Tham khảo mô hình nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát thực trạng diện rộng, thiết kế thực nghiệm sư phạm hai vòng (thăm dò và chính thức) có đối chứng và phương pháp nghiên cứu trường hợp chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định kĩ năng định hướng thời gian của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi gồm những kĩ năng thành phần nào? Kĩ năng định hướng thời gian của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi được cấu thành từ ba kĩ năng: (1) Kĩ năng xác định và ước lượng các khoảng thời gian (nhận biết trên dụng cụ đo, chỉ dấu hiệu chuyển động, diễn đạt dấu hiệu bằng lời nói và ước lượng khoảng thời gian không có công cụ); (2) Kĩ năng so sánh và xác định mối quan hệ, mối liên hệ thời gian (mối liên hệ thời điểm, mối quan hệ thời lượng và mối quan hệ tốc độ); (3) Kĩ năng thực hiện nhiệm vụ phù hợp với thời gian quy định (lập kế hoạch, điều chỉnh tốc độ hoạt động và vận dụng kinh nghiệm sử dụng thời gian vào tình huống mới).

2. Quy trình giáo dục kĩ năng định hướng thời gian qua trải nghiệm cho trẻ mầm non gồm những bước nào? Quy trình gồm 4 giai đoạn liên hoàn: Giai đoạn 1 - Trải nghiệm thực tế (trẻ trực tiếp tương tác với đối tượng gắn với phương tiện đo thời gian); Giai đoạn 2 - Chia sẻ kinh nghiệm (trẻ trao đổi, diễn đạt lại kết quả và cảm nhận về thời gian bằng lời nói); Giai đoạn 3 - Rút kinh nghiệm cho bản thân (khái quát hóa, phân tích mối quan hệ giữa tốc độ hành động và khoảng thời gian để tạo thành kinh nghiệm); Giai đoạn 4 - Vận dụng kinh nghiệm vào tình huống mới (áp dụng kinh nghiệm đã có để tự điều chỉnh tốc độ giải quyết nhiệm vụ trong hoàn cảnh mới).

3. Khảo sát thực trạng chỉ ra hạn chế lớn nhất của trẻ 5-6 tuổi trong việc định hướng thời gian là gì? Khảo sát thực trạng trên 195 trẻ tại Ninh Bình chỉ ra rằng trẻ gặp hạn chế lớn nhất ở kĩ năng nhận biết thời lượng của các khoảng thời gian ngắn (tính bằng phút) và kĩ năng ước lượng thời gian khi không có công cụ hỗ trợ. Đa số trẻ chưa có kĩ năng tự lập kế hoạch và chưa biết điều chỉnh tốc độ thực hiện nhiệm vụ để hoàn thành đúng thời hạn quy định nếu không có sự thúc giục của người lớn.

4. Dụng cụ đo thời gian nào được luận án nhấn mạnh sử dụng trong các hoạt động trải nghiệm của trẻ? Luận án đặc biệt nhấn mạnh việc sử dụng đồng hồ cát (với các định mức thời lượng ngắn 1 phút, 3 phút, 5 phút), đồng hồ bấm giờ và mô hình đồng hồ kim di động. Đây là những công cụ trực quan hóa sự trôi chảy của thời gian, giúp trẻ dễ dàng quan sát điểm bắt đầu, điểm kết thúc và lượng thời gian đã trôi qua thông qua mức cát chảy hoặc sự dịch chuyển của các kim.

5. Kết quả thực nghiệm sư phạm chứng minh hiệu quả của các biện pháp như thế nào? Kết quả thực nghiệm chính thức trên 100 trẻ (50 trẻ nhóm thực nghiệm và 50 trẻ nhóm đối chứng) tại Ninh Bình cho thấy sau can thiệp, điểm trung bình kĩ năng định hướng thời gian của nhóm thực nghiệm tăng trưởng vượt bậc, tỉ lệ trẻ đạt mức độ cao tăng mạnh và tỉ lệ mức thấp giảm rõ rệt. Kiểm định t-test cho thấy sự khác biệt về kết quả giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm có ý nghĩa thống kê ở mức rất cao (p < 0.001), khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.

Kết luận

Luận án "Giáo dục kĩ năng định hướng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua trải nghiệm" của tác giả Vũ Thị Diệu Thúy là công trình nghiên cứu toàn diện về việc hình thành biểu tượng và kĩ năng sử dụng thời gian cho trẻ mầm non. Bằng việc xây dựng cấu trúc kĩ năng rõ ràng, xác lập quy trình tổ chức trải nghiệm 4 bước và đề xuất hệ thống ba nhóm biện pháp đồng bộ, luận án đã giải quyết thỏa đáng khoảng trống thực tiễn về việc dạy trẻ làm chủ các khoảng thời gian ngắn. Kết quả thực nghiệm sư phạm với các dữ liệu định lượng và nghiên cứu trường hợp đã kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất, đóng góp tư liệu khoa học thiết thực cho lý luận và thực hành giáo dục mầm non tại Việt Nam.