CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHỐI HỢP GIỮA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG TRONG GIÁO DỤC TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 4 – 5 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON HÒA NHẬP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Phối hợp giữa các lực lượng là vô cùng quan trọng đối với hoạt động giáo dục, đặc biệt là đối với việc giáo dục cho trẻ có nhu cầu đặc biệt nói chung và trẻ Rối loạn phổ tự kỉ nói riêng. Ở mỗi lực lượng sẽ có những đặc điểm riêng, những ưu thế riêng, nên chính vì vậy sự phối hợp chặt chẽ, đoàn kết và có hiệu quả giữa các lực lượng này sẽ giúp cho trẻ phát triển được những khó khăn của bản thân, dần dần trở thành thành viên đầy đủ của xã hội. Và đối với vấn đề nghiên cứu này.
tôi sẽ đi tìm hiểu sâu về vấn đề phối hợp giữa hai lực lượng là giữa gia đình và nhà trường. Vì vậy, để cho trẻ Rối loạn phổ tự kỉ có thể khắc phục khó khăn, tham gia độc lập và hòa nhập vào các hoạt động rất cần sự chung tay phối hợp giữa các lực lượng. Có một số tài liệu về phối hợp giữa gia đình, nhà trường trong giáo dục trẻ Rối loạn phổ Tự kỉ tại trường mầm non cùng các thông tin liên quan đến nghiên cứu này. Những nghiên cứu về phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong giáo dục trẻ Rối loạn phổ tự kỉ tại trường mầm non hòa nhập Trên Thế Giới và Việt Nam có một số nghiên cứu về sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục trẻ khuyết tật nói chung, trẻ Rối loạn phổ tự kỉ nói riêng, điển hình như các tác giả Đỗ Thị Thảo, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Wood L.
và Jivanjee P, Kruzich J. về “Xây dựng video để nâng cao nhận thức về quan hệ hợp tác giữa giáo viên, gia đình trẻ” [17]. Nhóm tác giả Jivanjee P, Kruzich J. về “Gia đình tham gia vào xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân của trẻ” [16] Khoản 2, Điều 3 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019, điều này đã khẳng định: “Hoạt động giáo dục được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.
Khoản 3 điều 16 quy định: “Tổ chức, gia đình và cá nhân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với cơ sở giáo dục thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh”. Hai điều khoản trong Luật Giáo dục đều nói sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường là vô cùng cần 5 thiết. Vì mỗi trẻ em chính là “mầm non” tương lai của đất nước, việc giáo dục, chăm sóc chính là nhiệm vụ chung hàng đầu của toàn xã hội. [5] Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) viết: “Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng công đồng, từng tập thể” Nhờ có sự gắn kết, kết hợp giữa gia đình, nhà trường đã tạo ra các quyết định đúng đắn, mang tính sáng tạo, có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển, hình thành nhân cách cho trẻ em nói chung và trẻ có nhu cầu đặc biệt nói riêng.
[7] Ngoài ra, theo Khoản 2, Điều 15 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14, ngày 14 tháng 6 năm 2019 đã đưa ra giáo dục hòa nhập cho trẻ có nhu cầu đặc biệt là cực kì cần thiết: “Nhà nước có chính sách hỗ trợ thực hiện giáo dục hòa nhập cho người học là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Trẻ em, người học là người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật và quy định khác của pháp luật có liên quan”. Mỗi cá nhân, mỗi trẻ em dù có những khiếm khuyết, khó khăn về chức năng cơ thể đều có quyền được tham gia học tập và phát triển [5] Tác giả Đỗ Thị Thảo với nghiên cứu “Sự cần thiết của việc hợp tác giữa Giáo viên và Cha mẹ trong can thiệp sớm trẻ tự kỉ lứa tuổi mẫu giáo” vào năm 2011 tại hội nghị Hội thảo Khoa học đã cho thấy tầm quan trọng cùng sự cần thiết của phối hợp giữa gia đình và giáo viên trong giáo dục trẻ Rối loạn phổ tự kỉ [8]. Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Yến cùng với nhiều năm nghiên cứu kinh nghiệm, giảng dạy trong lĩnh vực Giáo dục Đặc biệt đã nghiên cứu và biên soạn cuốn “Tự kỉ - Những vấn đề lí luận và thực tiễn”. Quyển sách đưa ra những vấn đề chung về trẻ Rối loạn phổ tự kỉ, những biện pháp sàng lọc, chẩn đoán, đánh giá trẻ để rồi từ đó có những chương trình giáo dục, can thiệp,.
Ngoài ra quyển sách còn đưa ra những phương pháp can thiệp giáo dục và nhấn mạnh rất cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, giáo viên cùng những tổ chức liên quan trong giáo dục trẻ Rối loạn phổ tự kỉ nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất. Không những vậy, cuốn “Giáo dục hòa nhập” của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Hải – Lê Thị Thúy Hằng – Trần Thị Thiệp đã cung cấp những kiến thức về mô hình can thiệp, giáo dục cho trẻ và trình bày về sự hợp tác giữa gia đình, nhà trường [2] Tuy rằng có nhiều nghiên cứu về việc phối hợp giáo dục giữa các lực lượng cho trẻ Rối loạn phổ tự kỉ tại trường mầm non hòa nhập nhưng việc thực hiện hoạt động này chưa đạt hiệu quả cao do còn nhiều nguyên nhân từ nhận thức, gia đình,. Những nghiên cứu về biện pháp phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong giáo dục trẻ Rối loạn phổ tự tại trường mầm non hòa nhập. Nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ em ở các trường mầm non tư thục” của tác giả Lê Thị Thu Ba được đăng trên Khoa học giáo dục vào ngày 24/06/2016 không chỉ đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa gia đình và nhà trường mà còn thực nghiệm tính khả thi các biện pháp đó trên các trường mầm non tư thục tại khu vực.
[1] Tác giả Đỗ Thị Thảo cùng bài báo “Hợp tác giữa nhà trường và gia đình trong Can thiệp sớm giáo dục trẻ Rối loạn phổ tự kỉ” được đăng trên Tạp chí khoa học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2016 đã trình bày một số nội dung về phối hợp, thực trạng của công tác phối hợp từ đó đưa ra các biện pháp tăng cường sự hợp tác gia đình và nhà trường trong Can thiệp sớm giáo dục trẻ Rối loạn phổ tự kỉ. [9] Trên đây là những nghiên cứu và cũng là cơ sở nhằm phục vụ cho đề tài. Từ đó, kết quả của nghiên cứu sẽ góp phần quan trọng nâng cao phối hợp giữa các lực lượng nhằm nâng cao hiệu quả trong giáo dục trẻ Rối loạn phổ tự kỉ tại trường mầm non. Những khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Khái niệm gia đình Theo từ điển tiếng Việt, “Gia đình là một cộng đồng người sống chung, gắn bó với nhau và có mỗi quan hệ tình cảm, mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thông, quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ giáo dục”[14]. Gia đình có chức năng nuôi dưỡng, chăm sóc về mặt sức khỏe, thoải mãn nhu cầu sinh lý – tình cảm cũng như có chức năng về giáo dục về nhân cách, đạo đức cũng như các kiến thức, kĩ năng. Khái niệm nhà trường Theo từ điển tiếng Việt “Trường học hay gọi tắt là cơ sở giáo dục thiết kế cung cấp không gian học tập và môi trường học tập cho việc giảng dạy học sinh dưới sự chỉ đạo của các giáo viên” [15]. Nhà trường đào tạo cho học sinh về mặt đạo đức, tri thức cũng như các nội dung phát triển thể chất và hoạt động chủ đạo là dạy học.
Khái niệm giáo dục “Giáo dục là hình thức học tập hay tiếp thu kiến thức, kĩ năng được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu. Và giáo dục được diễn ra dưới sự hướng dẫn hoăc có thể thông qua tự học” [14] 7 1. Khái niệm phối hợp Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để hỗ trợ cho nhau thực hiện một công việc chung nhằm đạt mục tiêu đã định. Phối hợp là một quá trình có kế hoạch trong đó việc tổ chức các hoạt động có trật tự, sắp xếp có hệ thống của các yếu tố quản lí để đạt được sự nhất trí về các nỗ lực cá nhân trong việc theo đuổi các mục tiêu chung và đảm bảo các hoạt động đó diễn ra trơn tru [10] 1.
Khái niệm trẻ Rối loạn phổ tự kỉ Hiện nay, khái niệm về Rối loạn phổ tự kỉ được sử dụng phổ biển và đầy đủ nhất là khái niệm của Liên hợp quốc trong Nghị quyết A/RES/62/139 ngày 21 tháng 1 năm 2008: “Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời, được thể hiện ra ngoài trong ba năm đầu đời, là hệ quả của rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ, ảnh hưởng đến trẻ em ở nhiều quốc gia, không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội, và được đặc trưng bởi khiếm khuyết trong tương tác xã hội, các vấn đề giao tiếp bằng lời nói và không lời nói, và có các hành vi, sở thích hạn hẹp và định hình lặp lại”. Khái niệm kĩ năng tự phục vụ “Kĩ năng tự phục vụ là hiểu và thực hiện có hiệu quả những hành động nào đó để phục vụ cho nhu cầu của bản thân bằng cách vận dụng những hiểu biết qua thực tế giúp con người có tính độc lập, lòng tự tin vào công việc mà mình thực hiện, nhằm chăm sóc cho bản thân mình, là điều kiện cơ bản để duy trì cuộc sống, thực hiện các chức năng của cơ thể và thích nghi với nền văn hoa. Các kĩ năng tự phục vụ gồm những nhiệm vụ cơ bản mang tính chu trình, nhằm duy trì sức khỏe và vệ sinh cá nhân: ăn, uống, ăn mặc, vệ sinh thân thể,. Khái niệm giáo dục hòa nhập Thuật ngữ giáo dục hòa nhập được xuất phát từ Canada và được hiểu là những ngoại lệ được hòa nhập “Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục cho mọi trẻ em, trong đó có trẻ có nhu cầu đặc biệt trong lớp học bình thường của trường phổ thông.