Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 62 31 04 01) với đề tài "Sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 - 12 tuổi" được nghiên cứu sinh Ngô Thị Hoàng Giang thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trương Thị Khánh Hà và PGS.TS Trịnh Thị Linh. Một phần dữ liệu của luận án được triển khai trong khuôn khổ đề tài "Cảm nhận hạnh phúc của trẻ em Việt Nam" (Mã số 501.300) do Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) tài trợ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Việc bảo đảm hạnh phúc và chất lượng cuộc sống cho công dân, đặc biệt là trẻ em, là tiêu chuẩn phát triển của mỗi quốc gia (James và James, 2012; Ben-Arieh, 2010). Sự hài lòng với cuộc sống đóng vai trò quan trọng giúp trẻ em nâng cao chất lượng cuộc sống, chống lại các tác động căng thẳng và ngăn ngừa sự phát triển của các hành vi tiêu cực (Suldo và Huebner, 2004a). Ngược lại, mức độ hài lòng thấp có thể dẫn đến nguy cơ khởi phát trầm cảm sau 2 đến 3 năm (Lewinsohn, Redner và Seeley, 1991; Proctor và đồng nghiệp, 2008), gây tổn hại đến các mối quan hệ liên cá nhân (Furr và Funder, 1998) và làm gia tăng nguy cơ bỏ học (Frisch và đồng nghiệp, 2002).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định gồm hai phương diện:

  1. Đa phần các nghiên cứu trước đây tập trung vào nhóm trẻ 6-7 tuổi (giai đoạn mới bắt đầu đến trường) hoặc 12-15 tuổi (giai đoạn dậy thì), trong khi lứa tuổi 8-12 tuổi (giai đoạn giữa và cuối tiểu học, đầu trung học cơ sở) ít được quan tâm dù đây là thời điểm trẻ đối mặt với khối lượng học tập tăng, áp lực thi chuyển cấp và thích ứng môi trường mới.
  2. Phần lớn các công trình tiếp cận sự hài lòng của trẻ từ góc nhìn của người lớn (cha mẹ, thầy cô, chuyên gia) mà thiếu vắng dữ liệu đánh giá chủ quan xuất phát từ chính tiếng nói và trải nghiệm của trẻ em (Ben-Arieh, 2008, 2010; Casas, 2011, 2016b). Tại Việt Nam, nguồn dữ liệu thực nghiệm về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ 8-12 tuổi dưới lăng kính tâm lý học còn thiếu hụt.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 đến 12 tuổi, xác định các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đưa ra một số kiến nghị với gia đình, nhà trường và xã hội nhằm hỗ trợ nâng cao mức độ hài lòng với cuộc sống của trẻ.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành:

  • Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận:
    1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em.
    2. Tìm hiểu các phương pháp, công cụ nghiên cứu đề tài.
    3. Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn:
    1. Làm rõ thực trạng sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng.
    2. Đưa ra các kiến nghị đối với gia đình, nhà trường và xã hội.

Giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng 4 giả thuyết nghiên cứu chính:

  1. Đa số trẻ em trong độ tuổi từ 8 đến 12 tuổi hài lòng với cuộc sống ở mức cao.
  2. Sự quan tâm, lắng nghe, hỗ trợ của cha mẹ và người thân, của thầy cô, của mọi người trong khu vực sống có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em. Trong đó, sự quan tâm, lắng nghe, hỗ trợ của cha mẹ và người thân trong gia đình ảnh hưởng nhiều nhất.
  3. Bị bạn bè bắt nạt ảnh hưởng tiêu cực đến sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em.
  4. Hoạt động vui chơi, giải trí, giúp đỡ gia đình, chơi thể thao, điều kiện kinh tế có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự hài lòng của trẻ em từ 8 đến 12 tuổi về cuộc sống của bản thân trẻ, môi trường, những người xung quanh và các yếu tố ảnh hưởng.
  • Khách thể nghiên cứu: 1.321 học sinh lứa tuổi 8-12 đang theo học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở (THCS) và 06 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại các trường thuộc địa bàn khảo sát.
  • Phạm vi không gian (địa bàn nghiên cứu): Khảo sát tại 3 tỉnh, thành phố:
    • Hà Nội: Trường Tiểu học Khương Đình, Trường THCS Hoàng Mai, Trường Tiểu học Phú Cường, Trường THCS Phú Cường.
    • Bắc Giang: Trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên, Trường THCS Ngô Sĩ Liên.
    • Thái Nguyên: Trường Tiểu học Phú Xá, Trường THCS Phú Xá.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào sự hài lòng với cuộc sống bản thân trẻ (vẻ bề ngoài, sức khỏe, sự tự do, sự an toàn, những điều sắp xảy ra, cuộc sống nói chung) và sự hài lòng với môi trường và mọi người xung quanh (người sống cùng, cuộc sống học sinh, điều học được ở trường, bạn bè trong lớp, khu vực sống, sự lắng nghe của người lớn). Các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài được phân tích gồm: sự quan tâm hỗ trợ của gia đình, nhà trường, khu vực sống, hiện tượng bị bắt nạt, hoạt động vui chơi giải trí, giúp đỡ gia đình/chơi thể thao và điều kiện kinh tế (tiền tiêu vặt, điện thoại). Luận án không nghiên cứu các yếu tố nội sinh như di truyền, khí chất, tính cách.
  • Phạm vi đối tượng loại trừ: Không khảo sát trẻ em ngoài nhà trường (trẻ bỏ học, trẻ khuyết tật không đến trường).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu chính trong và ngoài nước

Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu theo 4 hướng chính:

  1. Nghiên cứu về các mặt biểu hiện của sự hài lòng với cuộc sống:

    • Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em và Báo cáo UNICEF (2007; Bradshaw và đồng nghiệp, 2009): Đề cập các chiều cạnh sức khỏe, đời sống vật chất, an toàn, chất lượng giáo dục và các mối quan hệ.
    • Mô hình đa chiều: Huebner (1994), Gilman và Huebner (2003) phân lập 5 lĩnh vực gồm gia đình, bạn bè, trường học, môi trường sống và bản thân; Nair và Gaither (1999); World Vision (2007); Brown và Duan (2007); Axford (2009); Bradshaw và Richardson (2009); Rees và đồng nghiệp (2010, 2012); Bradshaw và đồng nghiệp (2010); Strózik (2016) trên 3.157 trẻ em Ba Lan thuộc Hiệp hội Đa quốc gia về Chỉ số Trẻ em (ISCI).
    • Dự án Thế giới Trẻ em (Children's Worlds - ISCWeB): Casas (2017), Savahl và đồng nghiệp (2021) xác lập 2 lĩnh vực: hài lòng với bản thân trẻ và hài lòng với môi trường/mọi người xung quanh.
    • Nghiên cứu tại Việt Nam: Báo cáo điều tra gia đình (2006), các báo cáo MICS (2010, 2011, 2012, 2014), báo cáo lao động trẻ em (2012); Ngô Thanh Huệ và Lê Thị Mai Liên (2013) dùng thang AUQUEI và KINDL-R khảo sát 165 trẻ tại Nghệ An; Trương Thị Khánh Hà, Nguyễn Văn Lượt và Trần Hà Thu (2017) khảo sát trẻ 8-12 tuổi ở Hà Nội và Vĩnh Phúc; Lê Thị Mai Liên và đồng nghiệp (2017) so sánh xuyên văn hóa Việt - Pháp; Trần Thu Hương và Ngô Thanh Huệ (2018) khảo sát 535 học sinh bằng thang đo cảm nhận hạnh phúc chủ quan (SWB) dựa trên BE-scol; Nguyễn Văn Lượt và đồng nghiệp (2018) khảo sát 253 học sinh THPT tại Hà Nội và Đà Nẵng; Hồ Văn Dũng (2022) nghiên cứu trên 551 sinh viên Đại học Sư phạm Huế.
  2. Nghiên cứu về mức độ hài lòng với cuộc sống:

    • Ruut Veenhoven (2006) phân chia sự hài lòng thành 4 mức độ từ trải nghiệm thỏa mãn nhất thời đến cảm giác thỏa mãn bền vững về cuộc sống.
    • Bằng chứng về mức độ hài lòng cao ở trẻ em: Rich Gilman và Scott Huebner (2003); Huebner (1994) trên 725 học sinh; Huebner và đồng nghiệp (2000a) trên 5.544 học sinh Mỹ (82% tích cực); Leung & Zhang (2000) trên 1.009 học sinh Trung Quốc; Neto (1993) trên 363 học sinh Bồ Đào Nha; Park (2005) trên 716 học sinh Hàn Quốc; Nee và đồng nghiệp (2016) trên 416 học sinh Malaysia; Savahl và đồng nghiệp (2017) trên 1.048 trẻ 12 tuổi ở Nam Phi.
    • Xu hướng suy giảm theo độ tuổi: Các nghiên cứu của Casas (2011), Currie và đồng nghiệp (2012), Goswami (2014), Holte và đồng nghiệp (2013), Suldo và Huebner (2004b), Ullman và Tatar (2001), Chang (2003), Strózik (2016) đều ghi nhận mức độ hài lòng có xu hướng giảm dần khi trẻ lớn lên.
  3. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng:

    • Gia đình: Sự gắn bó và nâng đỡ từ cha mẹ có tương quan mạnh mẽ với sự hài lòng (Dew và Huebner, 1994; Burke và Weir, 1978, 1979; Flouri và Buchanan, 2002; Wenk, 1994; Ortman, 1988; Leung, 2004; Proctor, Linley và Maltby, 2008; Peterson và Seligman, 2004b; Nguyễn Thị Minh Hằng và đồng nghiệp, 2019; Oliva và Arranz, 2005). Xung đột hoặc thờ ơ làm giảm sự hài lòng (Demo và Acock, 1996; Greene, 2006; Shek, 1997a-c, 2002a-c; Nickerson và Nagle, 2004).
    • Nhà trường và bạn bè: Tác động tích cực từ hoạt động ngoại khóa, sự nâng đỡ của giáo viên và bạn bè (Gilman, 2003; Maton, 1990; Park, 2005; Huebner và Gilman, 2003; Phan Thị Mai Hương và Nguyễn Thị Thùy Anh, 2017). Mối quan hệ trường học phân hóa thành nhận thức học đường và quan hệ xã hội (Casas & González, 2017; Oyarzún Gómez và đồng nghiệp, 2022).
    • Khu vực sống: Môi trường an toàn, ổn định làm tăng sự hài lòng (Proctor và đồng nghiệp, 2008; Brown và Orthner, 1990; Sastre và Ferriere, 2000; Gilman và Barry, 2003).
    • Bị bạn bè bắt nạt: Tác động tiêu cực của bắt nạt học đường và bắt nạt qua mạng (Rigby, 2000; Trần Văn Công và đồng nghiệp, 2009; Nguyễn Thị Thanh Mai và đồng nghiệp, 2009; Nguyễn Thị Anh và Nguyễn Thị Sĩ, 2010; Phạm Thị Thu Ba và Trần Thị Quỳnh Anh, 2016; Trần Văn Công, 2017; Barbara Coloroso, 2017).
  4. Nghiên cứu xây dựng thang đo: Thang đo của Huebner và Gilman (2002), Seligson và đồng nghiệp (2003), Casas (2017), Savahl và đồng nghiệp (2021), Huỳnh Mai Trang và đồng nghiệp (2022).

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án tập trung giải quyết khoảng trống thực nghiệm tại Việt Nam bằng cách đo lường đồng thời hai chiều cạnh đánh giá (bản thân trẻ và môi trường/mọi người xung quanh) dựa trên tự đánh giá của chính học sinh 8-12 tuổi, đồng thời lượng hóa mức độ tác động của 7 nhóm yếu tố hoàn cảnh (gia đình, nhà trường, khu vực sống, bắt nạt, vui chơi giải trí, thể thao/việc nhà, điều kiện kinh tế) thông qua mô hình thống kê đa biến.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Hệ quan điểm tiếp cận: Quan điểm duy vật biện chứng, nguyên tắc hoạt động tâm lý học Mác-xít (tâm lý hình thành và biểu hiện qua hoạt động học tập, giao tiếp, vui chơi), nguyên tắc tiếp cận hệ thống (đặt trẻ trong tổng thể các mối quan hệ cá nhân - xã hội) và nguyên tắc phát triển (xem xét biến đổi tâm lý theo độ tuổi, giới tính và môi trường sống).
  • Khung phân tích: Kế thừa khung lý thuyết của Dự án Thế giới Trẻ em (Casas, 2017; Savahl và đồng nghiệp, 2021), chia cấu trúc sự hài lòng thành 2 trục chính:
    1. Hài lòng với cuộc sống của bản thân trẻ (6 chỉ báo: sự an toàn, sự tự do, vẻ bề ngoài, điều sắp xảy ra, sức khỏe, cuộc sống nói chung).
    2. Hài lòng với môi trường và mọi người xung quanh (6 chỉ báo: người sống cùng, cuộc sống học sinh, điều học ở trường, bạn trong lớp, khu vực sống, sự lắng nghe của người lớn).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng thiết kế điều tra cắt ngang (cross-sectional design) kết hợp kỹ thuật định lượng và định tính:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tổng thuật các công trình lý luận và thực nghiệm trong và ngoài nước để xây dựng khung khái niệm.
  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (định lượng):
    • Khách thể: 1.321 học sinh (độ tuổi 8, 10, 12).
    • Công cụ đo lường: Thích ứng từ Thang đo sự hài lòng với cuộc sống của học sinh (Seligson và đồng nghiệp, 2003), Thang đo chỉ số sức khỏe cá nhân của học sinh (Cummins và Lau, 2005), Thang đo mức độ hài lòng của học sinh (Casas, 2017; Savahl và đồng nghiệp, 2021).
    • Kỹ thuật thống kê (SPSS 22.0):
      • Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha.
      • Phân tích nhân tố khám phá EFA (Phân tích thành phần chính - Principal Component Analysis với phép xoay Varimax with Kaiser Normalization).
      • Thống kê mô tả (Điểm trung bình - ĐTB, Độ lệch chuẩn - DLC).
      • Kiểm định so sánh trung bình: One-Sample t-test, Independent Samples t-test, ANOVA.
      • Phân tích tương quan tuyến tính Pearson ($r$).
      • Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (Multiple Linear Regression).
  3. Phương pháp phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp (định tính): Tiến hành phỏng vấn sâu 06 giáo viên giảng dạy tại các trường khảo sát để thu thập nhận định chuyên sâu về yếu tố gia đình, nhà trường, bạo lực học đường và môi trường sống. Khung phân tích định tính mã hóa theo Bảng 3.3.

Kiểm định độ tin cậy của các thang đo

Kết quả kiểm định độ tin cậy trên mẫu nghiên cứu (Bảng 3.4 và Phụ lục B1):

STT Tên thang đo Số lượng biến quan sát (N of items) Cronbach's Alpha ($\alpha$)
1 Thang đo sự hài lòng với cuộc sống trẻ em (Toàn thang) 12 0.884
2 Thang đo sự hài lòng với cuộc sống của bản thân trẻ 6 0.824
3 Thang đo sự hài lòng với môi trường và mọi người xung quanh 6 0.797
4 Thang đo sự quan tâm, lắng nghe, hỗ trợ của cha mẹ và người thân 6 0.837
5 Thang đo sự quan tâm, lắng nghe, tôn trọng của thầy cô và bạn bè 6 0.793
6 Thang đo yếu tố vui chơi, giải trí, thư giãn 5 0.610

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 tuyến nội dung:

  • Các quan niệm và chiều kích biểu hiện sự hài lòng với cuộc sống (từ khung tiếp cận của Công ước Quốc tế Quyền trẻ em đến các mô hình đa lĩnh vực của Huebner, Gilman, Bradshaw, Rees, Strózik, Casas, Savahl).
  • Thực trạng mức độ hài lòng ở các nền văn hóa khác nhau và quy luật suy giảm mức độ hài lòng khi trẻ bước vào giai đoạn lớn hơn.
  • Hệ thống các yếu tố ảnh hưởng (mối quan hệ gia đình, không khí học đường, môi trường khu dân cư, hành vi bắt nạt, điều kiện kinh tế - xã hội).
  • Lịch sử phát triển các công cụ đánh giá sự hài lòng dành cho trẻ em. Qua đó, tác giả khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng dữ liệu thực chứng trên trẻ em 8-12 tuổi tại Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý luận về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 - 12 tuổi

Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm công cụ:

  • Xác lập định nghĩa về "sự hài lòng với cuộc sống" và "sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 - 12 tuổi".
  • Phân tích đặc điểm tâm lý lứa tuổi 8-12: Giai đoạn chuyển giao giữa tiểu học và THCS, hình thành tư duy trừu tượng, mở rộng quan hệ xã hội ngoài gia đình, nhạy cảm với sự chấp nhận của bạn bè và bắt đầu định hình căn tính cá nhân.
  • Xác định cấu trúc biểu hiện của sự hài lòng (2 chiều kích gồm bản thân và môi trường/người xung quanh) và mô hình lý thuyết về các yếu tố tác động (yếu tố gia đình, nhà trường, khu vực sống, bắt nạt, hoạt động cá nhân, điều kiện kinh tế).

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày quy trình triển khai nghiên cứu thực tiễn:

  • Thiết kế mẫu khảo sát gồm 1.321 học sinh và 06 giáo viên tại 3 tỉnh/thành (Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên) (Bảng 3.1, Bảng 3.2).
  • Quy trình chuẩn hóa và kiểm định cấu trúc thang đo qua phân tích nhân tố khám phá EFA (Phụ lục B2). Kết quả EFA thang đo sự hài lòng trích xuất 2 nhân tố đại diện cho 2 chiều cạnh lý thuyết với phương sai trích đạt yêu cầu.
  • Xây dựng quy trình xử lý định tính (Bảng 3.3) và các thủ tục xử lý thống kê định lượng trên phần mềm SPSS 22.0.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực trạng về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 - 12 tuổi

1. Thực trạng mức độ hài lòng với cuộc sống của bản thân trẻ

  • Ở nhóm trẻ 8 tuổi (thang điểm 10):
    • ĐTB hài lòng bản thân chung: $M = 8.41$ ($SE = 0.069$; $t = 120.497$, $p < 0.001$).
    • Mức độ hài lòng cao nhất ở chỉ báo sức khỏe ($M = 9.11$, $SE = 0.104$), an toàn ($M = 8.98$, $SE = 0.097$), cuộc sống nói chung ($M = 8.97$, $SE = 0.097$) và thấp nhất ở vẻ bề ngoài ($M = 8.02$, $SE = 0.099$).
    • Phân bố mức độ: 62 trẻ mức thấp, 276 trẻ mức trung bình, 77 trẻ mức cao ($N = 415$).
  • So sánh nhóm trẻ 10 tuổi và 12 tuổi:
    • Điểm hài lòng bản thân ở nhóm 10 tuổi ($M = 8.64$, $SE = 0.077$) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm 12 tuổi ($t = 3.226$, $p = 0.001$).
    • Sự suy giảm theo độ tuổi thể hiện rõ ở: Sự an toàn ($t = 2.230$, $p = 0.026$), sự tự do ($t = 2.121$, $p = 0.034$), vẻ bề ngoài ($t = 2.986$, $p = 0.003$), cuộc sống nói chung ($t = 5.631$, $p < 0.001$).
Chỉ báo hài lòng bản thân (10 - 12 tuổi) $t$ $df$ Sig. (2-tailed) Chênh lệch trung bình
Mức độ hài lòng với sự an toàn 2.230 902 0.026 0.302
Mức độ hài lòng với sự tự do 2.121 895 0.034 0.366
Mức độ hài lòng với vẻ bề ngoài 2.986 887 0.003 0.481
Mức độ hài lòng với điều sắp xảy ra 0.783 899 0.434 0.137
Mức độ hài lòng với cuộc sống nói chung 5.631 901 0.000 0.628
Tổng thể hài lòng bản thân trẻ 3.226 904 0.001 0.356

2. Thực trạng mức độ hài lòng với môi trường và mọi người xung quanh

  • Ở nhóm trẻ 8 tuổi:
    • ĐTB hài lòng môi trường chung: $M = 8.01$ ($SE = 0.050$; $t = 176.880$, $p < 0.001$).
    • Điểm cao nhất ở chỉ báo những điều học được ở trường ($M = 9.15$, $SE = 0.062$), những người sống cùng ($M = 8.83$, $SE = 0.073$), cuộc sống học sinh ($M = 8.74$), khu vực sống ($M = 8.68$) và bạn bè trong lớp ($M = 8.09$, $SE = 0.103$).
  • So sánh nhóm trẻ 10 tuổi và 12 tuổi:
    • Trẻ 10 tuổi có mức độ hài lòng với môi trường cao hơn trẻ 12 tuổi ($t = 5.324$, $p < 0.001$).
    • Sự suy giảm thể hiện ở: Người sống cùng ($t = 4.476$, $p < 0.001$), cuộc sống học sinh ($t = 3.379$, $p = 0.001$), điều học ở trường ($t = 5.187$, $p < 0.001$), khu vực sống ($t = 4.986$, $p < 0.001$), sự lắng nghe của người lớn ($t = 3.226$, $p = 0.001$).
Chỉ báo hài lòng môi trường (10 - 12 tuổi) $t$ $df$ Sig. (2-tailed) Chênh lệch trung bình
Hài lòng với những người sống cùng 4.476 899 0.000 0.558
Hài lòng với cuộc sống là 1 học sinh 3.379 901 0.001 0.444
Hài lòng với những điều học ở trường 5.187 901 0.000 0.527
Hài lòng với bạn trong lớp 1.311 901 0.190 0.196
Hài lòng về khu vực sống 4.986 899 0.000 0.700
Hài lòng với sự lắng nghe của người lớn 3.226 899 0.001 0.560
Tổng thể hài lòng môi trường & người xung quanh 5.324 904 0.000 0.477

3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng

  • Yếu tố gia đình: Điểm trung bình nhóm trẻ 8 tuổi đạt $M = 3.26$ ($SE = 0.035$). Trẻ 10 tuổi cảm thấy an toàn ở nhà ($M = 3.51$), cha mẹ lắng nghe ($M = 3.05$), cùng đưa ra quyết định ($M = 2.18$). So sánh 10 và 12 tuổi về sự lắng nghe của cha mẹ đạt $t = 2.410$ ($p = 0.016$), cùng đưa ra quyết định đạt $t = 2.592$ ($p = 0.010$).
  • Yếu tố nhà trường: Trẻ 8 tuổi đánh giá thầy cô quan tâm ($M = 3.44$), thầy cô giúp đỡ ($M = 3.20$). Ở nhóm 10-12 tuổi, trẻ 10 tuổi đánh giá cao hơn trẻ 12 tuổi về sự quan tâm của thầy cô ($t = 4.134$, $p < 0.001$), thầy cô giúp đỡ ($t = 4.001$, $p < 0.001$), cơ hội đưa ra quyết định ở trường ($t = 3.123$, $p = 0.002$) và cảm giác an toàn ở trường ($t = 3.667$, $p < 0.001$).
  • Yếu tố bị bắt nạt:
    • Trẻ 8 tuổi: Bị đánh ($M = 0.62$), bị gọi bằng tên không thân thiện ($M = 0.59$), bị phớt lờ ($M = 0.53$). Điểm chung $M = 0.587$ ($t = 15.585$, $p < 0.001$).
    • Trẻ 10-12 tuổi: Bị gọi bằng tên không thân thiện có sự khác biệt giữa hai lứa tuổi ($t = 2.317$, $p = 0.021$).
  • Điều kiện kinh tế (tiền tiêu vặt và điện thoại di động):
    • Trẻ 8 tuổi: 81 trẻ có tiền tiêu vặt, 333 trẻ không có; 174 trẻ có điện thoại di động, 236 trẻ không có.
    • Trẻ 10-12 tuổi: 334 trẻ có tiền tiêu vặt, 566 trẻ không có; 565 trẻ có điện thoại di động, 335 trẻ không có.

4. Tương quan và mô hình hồi quy giải thích sự hài lòng với cuộc sống

Kết quả phân tích tương quan Pearson với biến phụ thuộc Sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em (SHLCSTE):

Biến số tương quan Hệ số tương quan Pearson ($r$) Mức ý nghĩa ($p$) Mẫu ($N$)
Hài lòng với bản thân trẻ (SHLBT) 0.942 0.000 1321
Hài lòng với môi trường và mọi người (SHLMT) 0.927 0.000 1321
Yếu tố gia đình (Y_Gia_dinh) 0.518 0.000 1319
Yếu tố nhà trường (Y_Truong_hoc) 0.502 0.000 1312
Yếu tố khu vực sống (Y_Khu_vuc_song) 0.494 0.000 1318
Yếu tố bị bắt nạt (Y_Bat_nat) -0.221 0.000 1321
Vui chơi giải trí thư giãn (Y_Vui_choi_giai_tri) 0.198 0.000 904
Giúp đỡ gia đình & chơi thể thao (Y_Giup_do_GD_The_thao) 0.284 0.000 904
Yếu tố điều kiện kinh tế (Y_DKKT) 0.179 0.000 905

Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (Bảng 4.18) xác định:

  • Hệ số tương quan bội $R = 0.648$, $R^2 = 0.420$, $R^2$ hiệu chỉnh $= 0.415$, sai số ước lượng $= 1.045$. Các biến độc lập giải thích được 41.5% đến 42.0% sự biến thiên của sự hài lòng với cuộc sống ở trẻ em.
  • Các biến có đóng góp ý nghĩa vào mô hình gồm: Yếu tố gia đình, yếu tố nhà trường, yếu tố khu vực sống ($B = 0.253$, $\text{Beta} = -0.176$, $t = 5.031$), vui chơi giải trí thư giãn ($B = 0.129$, $\text{Beta} = 0.094$, $t = 3.063$), yếu tố bị bắt nạt (tác động tiêu cực) và điều kiện kinh tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các lý thuyết quốc tế về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em dưới góc độ Tâm lý học (tâm lý học phát triển, tâm lý học gia đình, tâm lý học giáo dục, tâm lý học tích cực).
  2. Xây dựng và chuẩn hóa các khái niệm công cụ: "sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 đến 12 tuổi", xác lập khung lý luận gồm 2 chiều cạnh đo lường (bản thân trẻ và môi trường/mọi người xung quanh) phù hợp với bối cảnh học sinh Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt phương pháp

  1. Thích ứng và kiểm định độ tin cậy của các thang đo chuẩn quốc tế (Seligson và đồng nghiệp, 2003; Cummins và Lau, 2005; Casas, 2017; Savahl và đồng nghiệp, 2021) trên mẫu thực nghiệm 1.321 học sinh tiểu học và THCS tại Việt Nam.
  2. Xây dựng thành công thang đo tích hợp 12 biến quan sát đo lường sự hài lòng đạt độ tin cậy cao ($\alpha = 0.884$) cùng hệ thống thang đo các yếu tố tác động (gia đình, nhà trường, môi trường sống, bắt nạt, sinh hoạt cá nhân, kinh tế).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực nghiệm khách quan: Phần lớn trẻ em 8-12 tuổi tại Việt Nam có mức độ hài lòng cao với cuộc sống, tuy nhiên mức độ hài lòng có xu hướng suy giảm rõ rệt theo lứa tuổi (nhóm 8 và 10 tuổi hài lòng cao hơn nhóm 12 tuổi).
  2. Xác thực định lượng mối quan hệ giữa các yếu tố hoàn cảnh với sự hài lòng của trẻ: Yếu tố gia đình có tương quan thuận mạnh nhất ($r = 0.518$), tiếp đến là nhà trường ($r = 0.502$) và khu vực sống ($r = 0.494$); hành vi bị bắt nạt có tương quan nghịch ($r = -0.221$).

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với gia đình: Cha mẹ cần tăng cường lắng nghe, tôn trọng và tạo cơ hội cho trẻ cùng tham gia đưa ra các quyết định liên quan đến cuộc sống của trẻ; duy trì bầu không khí đầm ấm, hạn chế áp đặt và xung đột.
  • Đối với nhà trường: Xây dựng môi trường học đường an toàn, ngăn chặn bạo lực học đường và bắt nạt dưới mọi hình thức; tạo điều kiện để học sinh bày tỏ quan điểm, giảm áp lực điểm số và thi cử khi chuyển cấp; đẩy mạnh hoạt động ngoại khóa, thể thao.
  • Đối với xã hội và cộng đồng: Đầu tư cơ sở vật chất khu dân cư, tạo lập không gian vui chơi giải trí an toàn, lành mạnh cho trẻ em; xây dựng cộng đồng thân thiện và tôn trọng tiếng nói của trẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Về phạm vi khách thể: Đề tài chỉ khảo sát học sinh đang đi học tại các trường tiểu học và THCS trên địa bàn 3 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên); chưa bao quát nhóm trẻ em ngoài nhà trường (trẻ bỏ học, trẻ lang thang cơ nhỡ, trẻ khuyết tật không thể đến trường).
  • Về phạm vi nội dung: Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi đòi hỏi thang đo không được quá dài, luận án tập trung vào các yếu tố hoàn cảnh bên ngoài (gia đình, trường học, môi trường, kinh tế, bắt nạt) mà chưa khảo sát sâu các yếu tố tâm lý nội sinh như khí chất, tính cách, di truyền, năng lực cá nhân.
  • Về thiết kế nghiên cứu: Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional) nên chưa theo dõi được biến thiên tâm lý theo tiến trình thời gian của cùng một tập hợp khách thể.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo sát trên các vùng miền địa lý đa dạng hơn (vùng sâu, vùng xa, miền núi) và mở rộng khách thể sang nhóm trẻ em yếu thế ngoài nhà trường.
  • Triển khai các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal studies) để quan sát sự thay đổi sự hài lòng với cuộc sống từ cuối tiểu học qua THCS và THPT.
  • Tích hợp thêm các biến số nội tâm (năng lực cảm xúc, tính cách, lòng tự trắc ẩn) vào mô hình giải thích sự hài lòng với cuộc sống của trẻ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các lĩnh vực:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Tâm lý học phát triển, Tâm lý học giáo dục, Tâm lý học lâm sàng trẻ em, Công tác xã hội và Giáo dục học; có thể tham khảo trực tiếp khung lý luận, quy trình thích ứng công cụ đo lường và các bảng kết quả phân tích thống kê EFA, tương quan, hồi quy (Chương 2, Chương 3, Chương 4).
  • Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên tiểu học và THCS: Tham khảo dữ liệu thực trạng về sự hài lòng trường học, tác động của mối quan hệ thầy cô - bạn bè và hiện tượng bắt nạt để xây dựng các chương trình tư vấn tâm lý học đường, phòng chống bạo lực học đường (Chương 4).
  • Nhà hoạch định chính sách, tổ chức bảo vệ quyền trẻ em (UNICEF, các cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em): Sử dụng các số liệu thực chứng về đánh giá chủ quan của trẻ em để xây dựng chính sách phúc lợi xã hội, quy hoạch không gian công cộng và chương trình phát triển trẻ em lấy trẻ làm trung tâm.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức độ hài lòng với cuộc sống của trẻ em biến thiên như thế nào theo độ tuổi?

Kết quả kiểm định Independent Samples t-test cho thấy mức độ hài lòng với cuộc sống của trẻ em có xu hướng suy giảm rõ rệt theo độ tuổi. Nhóm học sinh 10 tuổi có mức độ hài lòng với bản thân ($M = 8.64$, $SE = 0.077$) và hài lòng với môi trường xung quanh cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm học sinh 12 tuổi ($t = 3.226, p = 0.001$ đối với bản thân; $t = 5.324, p < 0.001$ đối với môi trường). Sự suy giảm thể hiện rõ nhất ở sự an toàn, sự tự do, vẻ bề ngoài, cuộc sống học sinh, điều học được ở trường và sự lắng nghe của người lớn.

2. Yếu tố hoàn cảnh nào có tương quan mạnh nhất với sự hài lòng với cuộc sống của trẻ?

Phân tích tương quan Pearson xác định yếu tố sự quan tâm, lắng nghe, hỗ trợ của cha mẹ và người thân trong gia đình có mối tương quan thuận mạnh nhất với sự hài lòng với cuộc sống của trẻ ($r = 0.518, p < 0.001$), tiếp theo là yếu tố nhà trường/thầy cô và bạn bè ($r = 0.502, p < 0.001$) và yếu tố khu vực sống ($r = 0.494, p < 0.001$).

3. Hiện tượng bị bắt nạt tác động như thế nào đến sự hài lòng của trẻ em trong luận án?

Hành vi bị bắt nạt (bị bạn bè đánh, gọi bằng tên không thân thiện, bị phớt lờ) có tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê với sự hài lòng với cuộc sống của trẻ ($r = -0.221, p < 0.001$). Ở nhóm trẻ 8 tuổi, điểm trung bình nhóm yếu tố bị bắt nạt đạt $M = 0.587$ ($t = 15.585, p < 0.001$), trong đó hình thức bị đánh đạt điểm trung bình $0.62$ và bị gọi bằng tên không thân thiện đạt $0.59$.

4. Luận án sử dụng những công cụ đo lường quốc tế nào để thích ứng vào Việt Nam?

Luận án kế thừa và chuẩn hóa 3 công cụ: Thang đo mức độ hài lòng với cuộc sống của học sinh (Seligson và đồng nghiệp, 2003), Thang đo chỉ số sức khỏe cá nhân của học sinh (Cummins và Lau, 2005) và Thang đo mức độ hài lòng với cuộc sống của học sinh thuộc Dự án Thế giới Trẻ em (Casas, 2017; Savahl và đồng nghiệp, 2021). Thang đo toàn phần 12 biến quan sát đạt hệ số tin cậy Cronbach's Alpha $\alpha = 0.884$.

5. Mô hình hồi quy tuyến tính giải thích được bao nhiêu phần trăm sự biến thiên của sự hài lòng cuộc sống ở trẻ em?

Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (Bảng 4.18) với 7 nhóm biến dự báo đạt hệ số tương quan bội $R = 0.648$, hệ số xác định $R^2 = 0.420$ và $R^2$ hiệu chỉnh $= 0.415$, giải thích được 41.5% đến 42.0% phương sai sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em ($p < 0.001$).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Thị Hoàng Giang đã cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm quy mô trên 1.321 học sinh từ 8 đến 12 tuổi tại Việt Nam, phân tích đa chiều về sự hài lòng với cuộc sống thông qua tự đánh giá của trẻ em. Kết quả nghiên cứu chứng minh đa số trẻ em có mức độ hài lòng cao với cuộc sống nhưng mức độ này suy giảm dần theo độ tuổi từ tiểu học lên THCS. Mô hình nghiên cứu đã lượng hóa thành công vai trò nâng đỡ của gia đình, nhà trường, khu vực sống và tác động tiêu cực của bắt nạt học đường, tạo tiền đề khoa học cho việc xây dựng các can thiệp tâm lý học đường và hoạch định chính sách bảo vệ trẻ em.