CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về bạo lực học đường trên thế giới Ở nhiều quốc gia trên thế giới, tình trạng bạo lực học đường đã và đang diễn ra với hình thức, mức độ, tính chất ngày một nghiêm trọng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần của học sinh. Điều này được thể hiện qua các báo cáo về những trường hợp học sinh bị tấn công từ trong trường học, ngoài trường học và ngay cả trong nhà.
Trước tình trạng này, nhiều công trình nghiên cứu của các nước trên thế giới cũng đã tập trung đi sâu nghiên cứu về chủ đề này. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về tình trạng bạo lực học đường ở các nước phương tây tiêu biểu có thể kể đến: Nghiên cứu có tên “Bạo lực trong các trường công của Mỹ” do MushinsKi M, tiến hành năm 1994 là một phần trong một loạt các bài điều tra hàng năm của giáo viên trường công lập Mỹ MetLife. Nghiên cứu nhằm kiểm tra thực trạng hành vi bạo lực, nhận thức của giáo viên, sinh viên và các quan chức thực thi pháp luật về tình trạng bạo lực học đường trong các trường học. Những người tham gia khảo sát công nhận bạo lực là một vấn đề trong các trường học của họ, tuy nhiên, sự cảm nhận về tầm quan trọng của vấn đề này lại có sự khác nhau giữa các nhóm.
Báo cáo của sinh viên nói lên rằng họ nhìn thấy và lo sợ bạo lực nhiều hơn so với giáo viên. Mặc dù phần lớn các giáo viên và học sinh cảm thấy an toàn trong trường học, 11% giáo viên và 23% học sinh đã là nạn nhân của bạo lực. Giáo viên báo cáo rằng các vũ khí thường xuyên được mang đến trường sẽ tăng lên khi cảm nhận về chất lượng của một nền giáo dục trong nhà trường giảm. Ít nhất 2/3 giáo viên và 83% hoặc nhiều hơn của các cán bộ của pháp luật khẳng định rằng sự thiếu giám sát của cha mẹ ở nhà và sự phối hợp lỏng lẻo 5 z giữa gia đình và nhà trường được xem là yếu tố chính góp phần vào bạo lực đường.
66% sinh viên nói rằng việc họ mang súng/dao mang đến trường chủ yếu để gây ấn tượng với bạn bè hoặc để làm tăng cảm giác về tầm quan trọng của bản thân mình. Trong khi đó, có 38% giáo viên cho rằng học sinh muốn tự bảo vệ hoặc cố gắng để gây ấn tượng với bạn bè khi mang vũ khí đến trường. [35] Một công trình nghiên cứu khác của Glew GM và các cộng sự tiến hành năm 2005 trên 3530 học sinh lớp ba, lớp bốn, lớp năm tại Mỹ với đề tài “Bắt nạt, tâm lý xã hội điều chỉnh và kết quả học tập ở trường tiểu học” với mục tiêu xác định tỷ lệ bắt nạt trong trường tiểu học và mối liên quan của nó với nhà trường, thành tích học tập, hành động kỷ luật, và cảm giác của bản thân: cảm giác buồn, an toàn, và phụ thuộc. Kết quả của nghiên cứu cho thấy 23% trẻ em được khảo sát đã từng tham gia bắt nạt, hoặc đã từng là kẻ bắt nạt, nạn nhân, hoặc cả hai.
Nạn nhân và kẻ bắt nạt là nạn nhân có thành tích học tập thấp hơn so với những người ngoài cuộc. Tất cả 3 nhóm nêu trên đều có cảm giác không an toàn khi ở trường học hơn so với những đứa trẻ ngoài cuộc. Nạn nhân và kẻ bắt nạt là nạn nhân cho biết, họ cảm thấy rằng họ không thuộc về trường học. Họ thường cảm thấy buồn bã nhiều hơn so với những đứa trẻ bình thường.
Những kẻ bắt nạt và nạn nhân của hành vi bắt nạt chủ yếu là nam giới. Tác giả đã đưa ra kết luận: Tỷ lệ bắt nạt thường xuyên của các học sinh tiểu học là đáng kể. Đồng thời, mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt đã chỉ ra rằng đây là một vấn đề nghiêm trọng trường tiểu học. Các nghiên cứu được trình bày trong tài liệu này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình giảng dạy chống bạo lực dựa trên bằng chứng ở bậc tiểu học.[35] Công trình nghiên cứu của Wang J và cộng sự năm 2009 được tiến hành tại Mỹ với đề tài: “Bắt nạt trường học trong thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ: thể chất, bằng lời nói, quan hệ, và mạng” đã nghiên cứu bốn hình thức của hành vi bắt nạt trong trường học ở nhóm thanh thiếu niên Mỹ và mối liên quan với các đặc điểm về mặt nhân học xã hội, hỗ trợ của cha mẹ, và bạn bè đã được khảo sát.
6 z Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ về hành vi bắt nạt người khác hoặc đã từng bị bắt nạt ở trường học ít nhất một lần trong 2 tháng gần đây là 20,8% về mặt thể chất, 53,6% bằng lời nói, 51,4% về mặt xã hội, hoặc 13,6% về mặt điện tử. Các bạn trai dính líu nhiều hơn vào bắt nạt thể chất hoặc bằng lời nói, trong khi các bạn gái thì bị dính líu nhiều hơn đến các kiểu bắt nạt khác. Các bạn nam có xu hướng là người đi bắt nạt qua mạng, trong khi các bạn gái có xu hướng là nạn nhân của hiên tượng bắt nạt đó. Thanh thiếu niên người Mỹ gốc Phi đã tham gia bắt nạt nhiều hơn (về mặt thân thể, lời nói, hay qua mạng), nhưng lại ít trở thành nạn nhân của những hình thức bắt nạt (bằng lời nói hoặc quan hệ).
Nghiên cứu cho thấy, sự hỗ trợ cao hơn của cha mẹ có liên quan đến việc thanh thiếu niên ít dính líu đến tất cả các hành vi bắt nạt nêu trên. Ngoài ra, việc thanh thiếu niên có nhiều bạn bè sẽ có liên quan đến các hành vi bắt nạt nhiều hơn và họ cũng ít bị bắt nạt hơn về những hình thức như thể chất, bằng lời nói, và quan hệ trừ hình thức bắt nạt qua mạng. Từ kết quả nghiên cứu như trên, tác giả cũng đưa ra những kết luận quan trọng. Đó là sự hỗ trợ của cha mẹ có thể bảo vệ thanh thiếu niên khỏi tất cả bốn hình thức bắt nạt.
Liên kết bạn bè theo kiểu khác với bắt nạt truyền thống và bắt nạt mạng.[35] Ở Ấn Độ, một công trình nghiên cứu về “Bạo lực trong nước và trường học giữa các học sinh trung học ở Jamaica được tiến hành năm 2000 do Soyibo K, Lee MG, Đại học West Indies, Kingston, Jamaica tiến hành đã xác định sự phổ biến của bạo lực gia đình và trường học giữa các học sinh trung học ở Jamaica. Nghiên cứu được tiến hành trên 3.467 trẻ em trai và 1.657 bé gái) được lựa chọn ngẫu nhiên từ 34 các trường trung học, ở 13 trong số 14 giáo xứ của Jamaica.590 học sinh lớp 10 (tuổi trung bình 16 năm) và 1.534 học sinh lớp 11 (tuổi trung bình 17 năm). 1617 sinh viên đến từ nông thôn và 1507 từ các cộng đồng đô thị. Kết quả cho thấy 78,5% học sinh đã chứng kiến bạo lực trong cộng đồng của của các em, 60,8% là trong các trường học, và 44,7% trong gia đình.
Có 29% các sinh viên đã gây ra chấn thương cho người khác. Một số vũ khí đã được sử dụng bởi các sinh viên trong các hành vi bạo lực và những hành vi bạo lực bao gồm việc sử dụng 7 z tay hoặc bàn chân 59,8%, nói những lời tục tĩu, xúc phạm 59,1%; đá và đấm 54,5%; dao 18,4%; dao phay 8,9%; kéo 8,5%; dĩa 7,5%; súng 6,9%; các loại vũ khí khác (ví dụ như chai, compa…) 6,7%; axit 5,5%. Các học sinh nam mang vũ khí nhiều hơn các học sinh nữ. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự cần thiết phải đưa ra các giải pháp để giải quyết tỷ lệ học sinh có hành vi bạo lực học đường cao trong các trường trung học ở Jamaica.[35] “Bắt nạt, bạo lực và hành vi nguy hiểm ở học sinh trung học Nam Phi” là tên một đề tài nghiên cứu về bạo lực học đường được Liang H và cộng sự được tiến hành tại Anh năm 2007.
Nghiên cứu nhằm kiểm tra tỉ lệ của hành vi bắt nạt của 5074 học sinh vị thành niên đang học lớp 8 (tuổi trung bình 14,2 năm) và lớp 11 (tuổi trung bình 17,4 tuổi) ở 72 trường học ở Cape và Durban, Nam Phi. Làm rõ mối liên quan giữa những hành vi này với mức độ bạo lực và các hành vi nguy hiểm ở thanh thiếu niên. Kết quả cho thấy: Hơn 1/3 (36,3%) học sinh THPT đã tham gia vào hành vi bắt nạt, 8,2% là kẻ bắt nạt, 19,3% là nạn nhân và 8,7% kẻ bắt nạt là nạn nhân (những người đi bắt nạt người khác và bị những người khác bắt nạt). Nam sinh viên dễ trở thành thủ phạm và nạn nhân của hành vi bắt nạt, bên cạnh đó, các bạn trai trẻ tuổi dễ trở thành là nạn nhân của hành vi bắt nạt học đường.
Bạo lực và hành vi chống lại xã hội đã được tăng lên trong hành vi bắt nạt. Nghiên cứu cũng cho thấy kẻ bắt nạt là nạn nhân thường thể hiện hành vi bạo lực, chống đối xã hội và có những hành vi nguy hiểm hơn so với kẻ bắt nạt. Kẻ bắt nạt là nạn nhân có ý định tử tự và hút thuốc nhiều hơn so với nạn nhân. Nghiên cứu cho rằng hành vi bắt nạt là một vấn đề khá phổ biến của trẻ Nam Phi.
Hành vi bắt nạt cũng được xem như là một chỉ báo của các hành vi bạo lực, chống đối xã hội và hành vi nguy hiểm. Ngoài ra, còn có thể kể đến những công trình tiêu biểu khác về hành vi bắt nạt học đường như “Liên hệ giữa thừa cân và béo phì với các hành vi bắt nạt ở trẻ em tuổi đi học” ở Canada do Janssen và cộng sự tiến hành năm 2004. Nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa những trẻ em bị béo phì và nguy cơ trở thành nạn nhân của hành vi bắt nạt học đường. Những trẻ em này bị bắt nạt nhiều hơn so với trẻ em có cân nặng bình thường.
Hành vi bắt nạt có thể là việc gọi hay trêu chọc 8 z hoặc đánh, đá, hoặc đẩy nạn nhân. Hoặc công trình nghiên cứu do Nansel TR và công sự tiến hành năm 2001 với chủ đề “Hành vi bắt nạt trong giới trẻ Mỹ: Sự phổ biến và mối liên hệ với điều chỉnh tâm lý xã hội” đã đưa ra kết luận: Tại Hoa Kì, sự phổ biến trong hành vi bắt nạt giữa thanh thiếu niên là đáng kể.