Chương 1 giới thiệu tổng quan về thực trạng giao thông tại Thành phố Hồ Chí Minh, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cùng với tổng quan chuyên đề. 7 Chương 2 trình bày các nghiên cứu trước đây liên quan đến nghiên cứu này, các kết quả nghiên cứu sự khác biệt về thái độ và hành vi lái xe đối với giới tính, độ tuổi, vùng miền, học vấn, mối quan hệ nhân quả giữa trạng thái tính cách và hành vi lái xe mạo hiểm. Chương 3 trình bày chi tiết phương pháp của mô hình nghiên cứu. Nội dung mô hình nghiên cứu tập trung kiểm tra mối liên hệ giữa tính cách và các nhân tố tiềm ẩn trong lý thuyết TPB, kiểm tra khác biệt của tính cách và hành vi lái xe tiềm ẩn nguy cơ tai nạn đối với trải nghiệm tai nạn, loại phương tiện và yếu tố giới tính.
Chương 4 trình bày kết quả điều tra, kết quả mô hình tổng quát, mô hình đa nhóm. Sự khác biệt độc lập, cấu trúc của tính cách và các nhân tố tiềm ẩn trong lý thuyết TPB. Chương 5 đánh giá các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn giao thông ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. Đề xuất một số giải pháp hữu hiệu nhằm kiềm hãm tai nạn giao thông từ những giải pháp trên và những kết quả đạt được thông qua phân tích dữ liệu.
Chương 6 Kết luận. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Thuyết hành vi hoạch định (TPB) Thái độ Chuẩn chủ quan Ý định Hành vi Kiểm soát hành vi cảm nhận Hình 2-1 Thuyết hành vi hoạch định (Ajzen, 1991) Hiểu được nguyên nhân của những hành vi rủi ro của người sử dụng phương tiện là điều kiện tiên quyết để phát triển những biện pháp can thiệp nhằm hạn chế những hành vi này trong thực tế. Với mục đích dự đoán, cũng như xác định được nguyên nhân đứng sau việc thực hiện các hành vi rủi ro, một trong những lý thuyết được áp dụng phổ biến nhất là TPB. Theo TPB, có ba nhân tố tiềm ẩn là thái độ, chuẩn chủ quan, và kiểm soát hành vi cảm nhận (perceived behavioral control-PBC) có tác động đến hành vi, mà trung gian của ba nhân tố này là ý định (Hình 2-1).
Thái độ của cá nhân được định nghĩa là sự đánh giá thuận lợi hay không thuận lợi về một hành vi nào đó. Chuẩn chủ quan liên quan đến việc nhận thức áp lực xã hội để thực hiện hay không thực hiện hành vi. Cụ thể là các đối tượng cảm thấy “những người quan trọng” với bản thân sẽ tán thành hay không tán thành một hành vi mà các đối tượng này sẽ thực hiện. Kiểm soát hành vi cảm nhận liên quan đến nhận thức của một cá nhân về sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện một hành vi nào đó.
Nhiều nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau cũng đã áp dụng TPB để giải thích những lý do đằng sau việc thực hiện các hành vi đó như nghiên cứu sử dụng TPB để tìm hiểu về hành vi tiết kiệm trong các hộ gia đình Pomak [11], xem xét sự bằng lòng sử dụng nước khử muối của người dân ở Trung Quốc dựa trên TPB [12]. 9 Ngoài ra TPB cũng được các tác giả áp dụng để dự báo hành vi lái xe tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông như nghiên cứu về cảm giác không thể bị thương của người lái xe và ý định uống rượu, bia của họ trước khi lái xe [13]. Kết quả nghiên cứu cho thấy thái độ và kiểm soát hành vi cảm nhận tác động trực tiếp mạnh mẽ đến ý định sử dụng bia rượu, trong khi đó chuẩn chủ quan tác động gián tiếp mạnh mẽ hơn thái độ và kiểm soát hành vi cảm nhận đến hành vi lái xe mạo hiểm thông qua ý định hành vi. Một nghiên cứu khác áp dụng TPB để biết lý do tại sao người lái xe tiếp tục điều khiển xe trong tình trạng mệt mỏi [14].
Jiang và cộng sự đã phát hiện rằng TPB có thể giải thích 30.4% phương sai sau khi kiểm soát các biến nhân khẩu đối với hành vi lái xe trong tình trạng mệt mỏi. Kết quả cũng tiết lộ rằng chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận và ý định thì có ảnh hưởng đáng kể đến hành lái xe trong tình trạng mệt mỏi. Hay thông qua sử dụng TPB đã thấy được chuẩn chủ quan thì tác động đến ý định lái xe thiếu an toàn hơn so với thái độ và kiểm soát hành vi cảm nhận [15].2 Sự khác biệt về giới tính đối với thái độ và hành vi lái xe Các nghiên cứu về sự khác biệt hành vi lái xe đối với giới tính (Nam, Nữ) cũng được tiến hành trong các nghiên cứu trước đây. Chẳng hạn nữ giới thường tham gia vào những sự cố va chạm chủ yếu là do những lỗi xảy ra của họ trong quá trình phán đoán các tình huống trên đường, nên họ có xu hướng đối mặt rủi ro thấp hơn nam giới, do nam giới thường xuyên vi phạm những quy tắc an toàn khi đi xe như phóng nhanh, uống rượu [16].
Nam giới trẻ tuổi thường đánh giá các tình huống như trời tối, đường cong hay môi trường đường xá ở nông thôn là ít rủi ro hơn so với nam giới trung niên, tuy nhiên ngược lại nữ giới thì không có sự ảnh hưởng này từ đó cho thấy việc nam giới trẻ thường có tần suất tham gia vào những tình huống rủi ro hơn nữ giới trẻ [17]. Thêm nữa một nghiên cứu cho thấy 69.7% nam giới trẻ trong nghiên cứu này đánh giá rủi ro do tai nạn giao thông ở bạn bè họ cao hơn bản thân họ, trong khi con số này ở nữ giới trẻ chỉ có 31. Ngoài ra, nam giới cũng có ý định thực hiện hành vi vượt quá tốc độ hơn nữ giới và ý định này thì tăng dần theo kinh nghiệm của họ, tìm kiếm cảm giác thì có ảnh hưởng 10 mạnh với những người lái xe mới, trong khi đó kiểm soát hành vi cảm nhận thì có ảnh hưởng mạnh đối với những người lái xe có kinh nghiệm [19].3 Mối liên hệ giữa tính cách và hành vi lái xe tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông Có nhiều nghiên cứu trước đây đã báo cáo về mối liên hệ giữa tính cách và hành vi lái xe tiềm ẩn nguy cơ tai nạn. Nghiên cứu của Jonah và cộng sự [20] đã báo cáo về những người lái xe mà mạnh về tính cách tìm kiếm cảm giác thì thường có thói quen lái xe hung hăng, phóng nhanh trên đường cao tốc, và lái xe sau khi đã uống rượu hơn những người thấp về tìm kiếm cảm giác.
Iversen và Rundmo [21] cho thấy những người đạt điểm cao về tìm kiếm cảm giác, không chuẩn mực, và nóng tính thì thường xuyên tham gia vào hai hành vi rủi ro là chạy quá tốc độ giới hạn và lờ đi luật lệ giao thông. Họ cũng thường tham gia vào những tình huống suýt bị tai nạn, hay gặp tai nạn hơn những người lái xe khác. Trong nghiên cứu của Ulleberg và Rundmo [22], kết quả chỉ ra các tính cách như vị tha, lo lắng, không chuẩn mực, tìm kiếm cảm giác và hung hăng có sự tác động gián tiếp đến hành vi lái xe rủi ro thông qua thái độ. Một nghiên cứu khác của Rundmo và Iversen [23] đã báo cáo tính cách lo lắng có ảnh hưởng gián tiếp tiêu cực đối với các hành vi như vượt quá tốc độ, vi phạm luật lệ giao thông và lái xe không an toàn.
Dahlen [24] phát hiện các tính cách như giận dữ, tìm kiếm cảm giác có thể được dùng để dự đoán các hành vi lái xe không an toàn. Kết quả của Machin và cộng sự [25] thể hiện tìm kiếm sự phấn khích, vị tha có thể được sử dụng để dự đoán hành vi chạy quá tốc độ ở người lái xe trẻ. Ngoài ra nghiên cứu của Chen [26] với mục đích khám phá mối liên hệ giữa tính cách, thái độ và hành vi lái xe rủi ro. Kết quả chỉ ra rằng thái độ đối với an toàn giao thông có ảnh hưởng trực tiếp đối với hành vi lái xe rủi ro, thêm nữa các đặc điểm tính cách cũng được báo cáo là có ảnh hưởng gián tiếp trong việc thực hiện các hành vi rủi ro này thông qua trung gian là thái độ đối với an toàn giao thông.
Wong và cộng sự [27] phát hiện rằng có ba đặc điểm tính cách nổi bật ở người lái xe trẻ tuổi đó là tìm kiếm cảm giác, thiếu kiên nhẫn và sự hòa nhã. Những người 11 mang tính hòa nhã thì liên hệ với sự trưởng thành và lái xe cũng an toàn hơn và do đó ít có khả năng tham gia vào các vụ tai nạn. Người mạnh về tìm kiếm cảm giác thì thường rất tự tin vào bản thân, cảm thấy thoải mái với hành vi lái xe không an toàn và thường quan tâm đến những tiện ích của hành vi rủi ro mang lại. Tuy nhiên, họ cũng có nhận thức cao về điều kiện giao thông trên đường và điều này sẽ giúp giảm khả năng gặp tai nạn của họ, nhưng nếu tai nạn xảy ra thì nó sẽ rất nghiêm trọng.
Những người thiếu kiên nhẫn thì cho thấy họ là người kém tự tin và thiếu ý thức khi tham gia giao thông, và mặc dù họ cũng tìm kiếm những lợi ích từ các hành vi rủi ro trên đường, nhưng nỗi sợ hãi về khả năng gặp tai nạn có thể khiến họ không quan sát rõ môi trường xung quanh và gặp tai nạn.4 Các chiến lược dựa trên việc tác động đến các yếu tố trong TPB 2.1 Chiến lược liên quan đến kiểm soát hành vi cảm nhận Trong TPB, kiểm soát hành vi cảm nhận liên quan đến việc các cá nhân cảm thấy khó khăn hay dễ dàng thực hiện hành vi. Trong trường hợp hành vi lái xe tiềm ẩn tai nạn, yếu tố này thể hiện việc người lái xe cảm thấy thực hiện những hành vi rủi ro này là dễ dàng hay khó khăn theo kinh nghiệm của họ. Có rất nhiều nghiên cứu về dự đoán hành vi của con người áp dụng TPB phát hiện rằng kiểm soát hành vi cảm nhận có một vai trò quan trọng trong việc thực hiện hành vi. Nghiên cứu về hành vi sử dụng mũ bảo hiểm ở người đi xe máy của Ali và cộng sự [28] đã cho thấy kiểm soát hành vi cảm nhận thì có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định thực hiện hành vi và các chiến lược nên quan tâm hơn đối với nhân tố này.