Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ngoài nước Ở các nước đang phát triển, tình trạng bạo lực diễn ra cũng khá phức tạp. Mức độ và tính chất của nó ngày càng nghiêm trọng hơn.
Có 60% học sinh tại các trường học ở Ethiopian trong năm 1996 cho rằng, bạo lực có tác động tiêu cực đến hoạt động dạy và học cũng như những cảm xúc của họ và 40% cho rằng bỏ học vì bạo lực (IBE, 1997). Ở các nước Đông Nam Á, tình trạng BLHĐ cũng diễn ra tương tự. [40] BLHĐ là một trong những vấn đề của toàn cầu. Theo số liệu của UNESCO (2017), tỉ lệ trẻ em và vị thành niên là nạn nhân của BLHĐ hàng năm lên đến 246 triệu người trên toàn thế giới.
Số liệu của Plan International và Trung tâm nghiên cứu quốc tế về phụ nữ (ICRW) khảo sát ở 5 quốc gia: Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Pakistan và Nepal cho thấy, cứ 10 học sinh thì có 7 em từng phải chịu BLHĐ. Quốc gia có số học sinh hứng chịu nạn bạo lực cao nhất là Indonesia (84%); thấp nhất là Pakistan với 43%.[40] Tại Trung Quốc, số liệu báo cáo do Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao Trung Quốc tuyên bố, trong 11 tháng đầu năm 2016 có 2.337 học sinh bị kết tội vì gây BLHĐ. [21] Tại Nhật Bản, khảo sát năm 2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo nước này cho thấy số vụ bắt nạt ở cấp tiểu học và trung học tăng lên mức kỷ lục là 224.540 trường hợp, tăng hơn 36.400 trường hợp so với năm 2015. [21] Tại Hàn Quốc, theo khảo sát được thực hiện bởi Quỹ Phòng, chống bạo lực thanh thiếu niên Hàn Quốc (vào tháng 11 và 12 năm 2009) có đến 22% học sinh Tiểu học và THCS bị bắt nạt ở trường.
Cho đến năm 2016, số lượng học sinh Tiểu học bị BLHĐ chiếm đến 67% số vụ BLHĐ. [21] Ở tại Anh quốc, tình trạng bạo lực diễn ra cũng khá phức tạp. Trong năm 2007, cả nước đã xảy hơn 10. Tính tổng cộng số học sinh dưới 16 tuổi bị đuổi học vì có hành vi tấn công bạn cùng trường là 65.390 vụ, tăng khoảng 2.720 vụ trong một năm (dẫn theo Ông Thị Mai Thương, 2012).
Chính vì thế, các nghiên cứu (Cowie và cộng sự, 2008; Cowie và cộng sự, 2002; 2003; Smith 2003) cho rằng, BLHĐ không còn là một vấn đề xã hội nữa mà nó trở trành mối quan tâm hàng đầu về chính trị ở Anh. Điều này có nghĩa là, BLHĐ không là vấn đề giải quyết giữa cá nhân với nhau mà nó trở thành mối quan tâm của các nhà chính trị, có lẽ, các nhà chính trị ở Anh đã nhận thấy đạo đức trong học sinh, sinh viên ở đây có nguy cơ bị tha hóa và suy đồi; sâu xa hơn, nó đang đe dọa đến sự phát triển bền vững của quốc gia. [42] Ở Mỹ, có khoảng 38% các trường công lập báo cáo với cảnh sát có ít nhất một sự 5 cố bạo lực xảy ra ở trường học từ năm 2005-2006. Một nghiên cứu khác (2007) cũng cho thấy rằng, có 5,9% học sinh từ lớp 9-12 mang vũ khí đến trường trong 30 ngày trước khi có cuộc khảo sát; có 7,8% học sinh đã từng bị đe dọa hoặc đã bị thương trong trường học trong suốt 12 tháng trước khi có cuộc khảo sát; có 12,7% học sinh đánh nhau trong trường học trong thời giang 12 tháng trước khi có cuộc khảo sát (dẫn theo Ông Thị Mai Thương, 2012).
Điều này đã làm cho BLHĐ được nhìn nhận rộng rãi như là một vấn đề xã hội rất nghiêm trọng (Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, 2005) và nó được xem như một dịch bệnh (Elliott và cộng sự, 1998). [42] Liên quan đến BLHĐ qua Internet, số liệu của Hội đồng phòng chống tội phạm quốc gia (NCPC) cũng đáng báo động: Có tới 40% học sinh là nạn nhân của những hành động dọa nạt qua Internet hoặc điện thoại di động nhưng chỉ có 10% thổ lộ với cha mẹ mình. Cứ 9 nạn nhân, có 1 em khẳng định biết ai đứng đằng sau những thông điệp gửi cho mình nhưng không dám tố cáo. Cũng vì nỗi lo sợ bị dọa nạt, rất nhiều HS đã lựa chọn cách tự vệ.
Các thống kê ở Mỹ cho thấy có khoảng 100.000 HS mang súng tới trường. 1/3 số HS được hỏi nói rằng các em từng nghe thấy một HS khác đe dọa giết ai đó và 1/5 số HS biết có học sinh mang súng tới trường. [41] Theo một cuộc điều tra của nhà xã hội học người Pháp Cécile Carra công bố năm 2009 (thực hiện trên 2000 HS từ 7-12 tuổi tại 31 trường học), có hơn 40 % HS khẳng định từng là nạn nhân của BLHĐ ít nhất một lần trong năm và 28 % HS thừa nhận từng là “hung thủ” trong các vụ BLHĐ. Vấn đề BLHĐ gây lo ngại tới mức Bộ Giáo dục Pháp phải tổ chức một hội nghị kéo dài 2 ngày (7 - 8/4) tại Paris để bàn riêng về chủ đề này.
[41] Một nghiên cứu do nhà nghiên cứu Mottot Florence thực hiện ở châu Âu, đăng trên tạp chí Sciences Humaines của Pháp (số tháng 2/2008) khẳng định có đến 61% nạn nhân của BLHĐ có ý định tự tử. Còn theo số liệu của toà khám nghiệm y lý bang Victoria (Mỹ) năm 2007, có tới 40% nạn nhân các vụ tự tử từng là đối tượng của nạn BLHĐ. [41] Tại Nam Phi, Cao ủy Nhân quyền Nam Phi cho thấy 40% trẻ em được phỏng vấn nói rằng chúng từng là các nạn nhân của tội phạm tại trường học. Chỉ 23% học sinh cảm thấy an toàn khi đặt chân tới lớp.
Hơn một phần trăm số vụ tấn công tình dục vào trẻ em Nam Phi được phát hiện diễn ra tại trường học. Việc phải đương đầu với bạo lực gia đình, băng đảng và ma túy để lại dấu ấn lâu dài trong tính cách của HS.[41] Trước thực trạng BLHĐ diễn biến phức tạp, các nước trên thế giới đã triển khai nhiều giải pháp, chương trình, chiến lược quốc gia về vấn đề này. Đơn cử như Hàn Quốc đã ban hành luật chống bạo lực và bắt nạt học đường vào năm 2004, hay Philippines cũng ban hành Đạo luật chống bắt nạt (2016) đề cập đến cả bắt nạt truyền thống và bắt nạt trực tuyến, Australia có Khung chuẩn quốc gia về trường học an toàn (2004); Thụy Điển có Luật chống phân biệt (2009) và Luật Giáo dục sửa đổi (2010) 6 cấm tất cả các hình thức phân biệt và bắt nạt ở trường học. Ở Mỹ không có riêng một điều luật về phòng, chống bạo lực và bắt nạt, nhưng tất cả nội dung này đều được quy định trong các điều luật về nhà trường, luật về môi trường trường học an toàn và không có chất gây nghiện; đạo luật về môi trường cộng đồng an toàn thân thiện.
[21] Nhà tâm lý học Na Uy Dan Olweus đã đưa ra chương trình chống bắt nạt trong trường học. Được áp dụng từ năm 1983, nó tỏ ra hữu hiệu đến mức được nhiều nước phát triển áp dụng. Số liệu thống kê cho hay, nhờ chương trình này, số lượng nạn nhân và số lượng “kẻ ăn hiếp” giảm từ 30 – 50%. Đồng thời, cũng nhờ nó mà tỷ lệ phạm tội trộm cắp, ăn cướp, cưỡng hiếp … trong trẻ vị thành niên thuyên giảm đáng kể.
Ở Canada, hệ thống chẩn đoán tâm lý của HS đã được thiết lập trong trường học. Việc này đang được tiến hành ngày một kỹ càng hơn vì kết quả xét nghiệm độ hung hãn của từng HS giúp cho công tác chống bắt nạt trong trường sở ngày một hữu hiệu. Ở châu Âu đã thành lập Ban quan sát toàn châu lục về bạo lực trong nhà trường. Các quốc gia đã triển khai dự án Hiến chương châu Âu vì trường học dân chủ không bạo lực.
Theo đó, nhiều trò chơi trên máy tính đã thiết kế nhằm rèn cho HS kỹ năng chống bắt nạt trong nhà trường, trên đường phố; khuyến khích các em tham gia những trò chơi tập thể trên lớp, dựng những vở kịch, viết văn, làm thơ, tham gia thảo luận về đề tài chống bắt nạt, hoá giải hành động, thái độ hung hãn. Nhà trường cũng đã xây dựng những quy tắc hành vi cho những em thường rơi vào tình thế bị bắt nạt, và những em có xu hướng dùng bạo lực giải quyết tranh chấp, những em có tính thích trêu chọc bạn bè quá mức … Ông Travis Stewart, Phó Tổng Giám đốc của Egroup nhìn nhận: Có nhiều nguyên nhân dẫn tới BLHĐ, nhưng nguyên nhân chính vẫn là sự bỏ bê. Những bạn nhỏ phải chịu sự thờ ơ từ người xung quanh thường có hành vi tiêu cực nhằm tìm kiếm sự chú ý hoặc gây tổn hại cho người khác vì chính họ cũng không biết cách kiểm soát nỗi đau của mình. Một bạn nhỏ có hoàn cảnh gia đình thiếu ổn định, hoặc không được gia đình ủng hộ, sẽ cảm thấy mệt mỏi, tuyệt vọng và coi việc sử dụng bạo lực như biện pháp để xử lý các vấn đề cá nhân.
Nguyên nhân cũng không chỉ giới hạn ở gia đình. Những khó khăn của học sinh ở trường không được giáo viên kịp thời nhận biết và thay vì thấu hiểu, đồng cảm, lại bị cư xử quá nghiêm khắc sẽ dẫn đến tình trạng ức chế và hành vi gây gổ với bạn bè. Ngược lại, ở những học sinh đạt thành tích vượt mong đợi, nhưng chưa học được về lòng biết ơn thì lại gặp vấn đề về phức cảm tự tôn. Đây là vấn đề phức tạp ở nhiều nước khi các phụ huynh luôn đánh giá cao con mình ở trí thông minh, chứ không phải vì con đã làm việc chăm chỉ hay vì công sức con bỏ ra để đạt được mục tiêu.
Một số phụ huynh cũng che chở con quá đà, luôn tự mình thay con giải quyết vấn đề dẫn đến trẻ chưa bao giờ trải qua khó khăn hay thất bại, ảnh hưởng đến cách nhìn nhận thế giới khi lớn lên. Vì vậy, việc xây dựng tính cách từ khi trẻ còn nhỏ là điều hết sức quan trọng. [21] Tóm lại, các nghiên cứu về bạo lục nói chung, BLHĐ nói riêng ở nước ngoài cho 7 thấy: BLHĐ mang những nội dung về bản chất, nguồn gốc của nó dựa trên cơ sở sinh học, xã hội học và tâm lí học và mỗi lí thuyết khác nhau có những cách lí giải khác nhau về nguồn gốc phát sinh cũng như những phương pháp trị liệu khác nhau đối với BLHĐ nhưng chưa đưa ra được một phương pháp trị liệu tổng quát cho việc giảm thiểu, ngăn ngừa hành vi này một cách hiệu quả.