Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG 4. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu của một số nước trên thế giới BLHĐ trong giai đoạn hiện nay được coi là vấn nạn chung của toàn cầu. BLHĐ ngày càng được quan tâm và được coi là một vấn nạn nghiêm trọng được nhiều nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về BLHĐ cho thấy, các nghiên cứu tập trung vào việc giải quyết các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về BLHĐ như: Thực trạng BLHĐ; hình thức BLHĐ; nguyên nhân dẫn đến BLHĐ và giải pháp ngăn chặn BLHĐ. Trước hết phải kể đến nghiên cứu về thực trạng BLHĐ giữa giáo viên với học sinh. Nghiên cứu vấn đề này đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới. Đại diện hướng nghiên cứu này gồm có: Thomas Gordon, Galand Benoit, Philippot Pierre, LecoCQ Catherin.
Thomas Gordon đã nghiên cứu về thực trạng BLHĐ và cụ thể là BLHĐ của giáo viên đối với học sinh trên thế giới. Nghiên cứu của ông đã cho chúng ta thấy một bức tranh chung về thực trạng này tại các quốc gia khác nhau. Ví dụ như ở Trung Quốc, nếu giáo viên mất bình tĩnh và dùng tay trừng phạt học sinh thì chính họ cũng tự phạt mình như thế. Ở Singapore, chỉ cho phép hiệu trưởng hoặc giáo viên cao cấp dùng roi đánh học sinh nam trên 10 tuổi nếu học sinh này phạm lỗi lớn, còn học sinh nữ được miễn.
Tại Nhật Bản, sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng cấm các hình phạt thân thể nhưng vẫn còn cân nhắc về tính khả thi của luật này. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, người ta lại quan niệm rằng “Khi giáo viên đánh thì hoa hồng sẽ nở”. Nghiên cứu của ông cũng chỉ ra rằng, ở hầu hết các nước phát triển trên thế giới đều bãi bỏ hình thức trừng phạt thân thể đối với học sinh. Trong khi đó, những nước nằm dưới sự thống trị của Vương quốc Anh như Scotland, xứ Wales, Hoa Kỳ, Nam Phi, Úc, Canada, 5 Bermuda vẫn cho phép trừng phạt thân thể ở trường học.
Tại Anh, năm 1986, đã ban hành lệnh bãi bỏ trừng phạt thân thể tại các trường học công lập, nhưng ở Mỹ, cho đến năm 1989, luật này vẫn chưa được ban hành trong tất cả các Bang. Nghiên cứu của ông cũng cho thấy, khi những chính sách trừng phạt học sinh của nhà trường không đi kèm với việc lôi kéo sự hợp tác của người học, cũng như không nhằm phục vụ lợi ích người học, thì chắc chắn các hình thức kỷ luật học sinh còn tồi tệ hơn và điều này sẽ dẫn đến tình trạng bạo lực học đường, hoặc chúng sẽ buộc học sinh phải ngừng đi học. Thực tế việc giáo viên vẫn còn bị hành hung chứng tỏ các kiểu trừng phạt học đường góp phần là nguyên nhân của gây hấn học đường hơn là giải pháp ngăn chặn. Các cuộc tổng điều tra trên thế giới về thực trạng BLHĐ giữa học sinh với giáo viên đã có những thống kê sau: Úc: Bộ trưởng Bộ Giáo dục Tiểu bang Queensland cho biết rằng, trong tháng 7 năm 2009, mức tăng bạo lực trong trường học là “hoàn toàn không thể chấp nhận được” và thừa nhận rằng đã không làm đủ để khắc phục hiện tượng này.
Trên thực tế có tới 55.000 học sinh đã bị đình chỉ học trong năm 2008. Ở Nam Úc, cũng trong năm 2008 đã có 175 cuộc tấn công bạo lực đối với học sinh và nhân viên nhà trường. Bỉ: Nghiên cứu của Galand, Lecocq và Philipott (2007) cho thấy, trải nghiệm của giáo viên về bạo lực học đường là một trong những nhân tố quan trọng đưa đến quyết định rời khỏi nghề dạy học. Bungari: Với nhiều báo cáo về BLHĐ, vào năm 2009, Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã đưa ra các quy định chặt chẽ hơn về hành vi của học sinh, bao gồm cả trang phục phù hợp, say rượu, mang theo điện thoại di động và giáo viên được quyền trừng phạt những học sinh gây rối.
Pháp: Vào năm 2000, Bộ trưởng Giáo dục Pháp thừa nhận rằng, trong số 75.000 trường công lập, có 39 trường vẫn còn có vấn đề bạo lực nghiêm trọng và 300 trường có vấn đề bạo lực. 6 Nhật Bản: Một cuộc khảo sát gần đây của Bộ Giáo dục năm 2008 cho thấy, học sinh các trường công lập đã tham gia vào 52.756 trường hợp bạo lực học đường, tăng khoảng 8.000 trường hợp so với năm 2007, trong đó có 7.000 trường hợp, giáo viên là mục tiêu bị tấn công… Bên cạnh các nghiên cứu về thực trạng BLHĐ giữa giáo viên và học sinh, các nghiên cứu còn tập trung vào việc tìm hiểu giữa học sinh với nhau. Khảo sát thực trạng BLHĐ giữa học sinh với học sinh gồm các nhà nghiên cứu His-Sheng Wei và các cộng sự; Craid và Harel; Due &Holstein, Huang, Zhou & Guo; Morita, Soeda & Taki; Yang, Kim, Shin & Yoon; Centinkaya và cộng sự. Các tác giả: Kristine A, Michel Nelson, Krischine Jolivette thuộc trường Đại học Kentucky đã tiến hành nghiên cứu tổng quan về vấn đề “Ngăn chặn hành vi bạo lực và chống đối xã hội ở Thanh thiếu niên” [39].
Nghiên cứu của Lipsey MZ, Derzon J.H (Mỹ): đề xuất các chỉ báo về bạo lực và sự không thích ứng ở thiếu niên và thiếu nhi – các yếu tố rủi ro và sự can thiệp. Tại Châu Âu, vấn đề ngăn chặn BLHĐ được quan tâm từ rất sớm. Hiện tượng bắt nạt học đường xảy ra thường xuyên ở trường tiểu học, liên quan tới khoảng 15% số học sinh. Ở trường THCS, tỷ lệ học sinh bị bắt nạt là 3% - 10%, với mức độ cao đột biến ở độ tuổi 13-14, khi các em học sinh bắt đầu tuổi dậy thì.
Đến cấp trung học phổ thông, nạn BLHĐ có xu hướng giảm dần. Ở Mỹ, một nghiên cứu được thực hiện bởi Tonja Nansel và đồng nghiệp (2001), chỉ ra rằng trong số hơn 15.000 học sinh từ lớp 6 đến lớp 10 có khoảng 17% học sinh cho biết họ thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bị bắt trong gần cả năm học; gần 19% cho rằng họ “thỉnh thoảng” hoặc thường xuyên bắt nạt các bạn khác và 6% người được hỏi nói rằng họ vừa bắt nạt người khác vừa là nạn nhân của các vụ bắt nạt. Tuy nhiên, cùng với xu hướng giảm của các vụ việc bắt nạt truyền thống (bắt nạt mặt đối mặt) thì số lượng các vụ việc bắt nạt trực tuyến (qua mạng 7 internet) có xu hướng tăng và trở thành vấn đề phổ biến của thanh thiếu niên hiện nay. Theo nghiên cứu của Patchin & Hinduja (2016) từ năm 2007 đến 2016, tỉ lệ cá nhân bị bắt nạt trực tuyến một số thời điểm trong cuộc đời tăng lên gần gấp đôi (18% đến 34%).
Như vậy, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về BLHĐ giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với nhau. Trong đó, các nghiên cứu tập trung vào việc đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi như: Thực trạng BLHĐ; hình thức BLHĐ; nguyên nhân dẫn đến BLHĐ; hậu quả BLHĐ và giải pháp ngăn chặn BLHĐ. Nghiên cứu về bạo lực học đường ở Việt Nam Tại Việt Nam, BLHĐ đã được quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu từ những năm 1990 và đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về BLHĐ. Một vài thống kê và các công trình nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, cách xử lý - ứng phó và phòng chống BLHĐ trong những năm gần đây: Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ đầu năm học 2009-2010 đến 2015, cả nước đã xảy ra 1598 vụ HS đánh nhau ở trong và ngoài trường học.
Tình trạng này có xu hướng xảy ra ngày một nhiều và đang trở thành một vấn nạn xã hội. Về phương tiện sử dụng khi đánh nhau, có 1/3 không sử dụng phương tiện nào, các em có thể túm tóc, cào cấu, xé áo, và lăng nhục. Còn một phương tiện nữa, mang tính chất bạo lực về tinh thần, đó là sử dụng điện thoại di động để ghi hình vụ hành hung, sau đó đưa lên mạng Internet như là cách để làm nhục nạn nhân và thậm chí là để khoe thành tích của mình. Các trường đã xử lý kỷ luật khiển trách 881 HS, cảnh cáo 1.558 HS và buộc thôi học có thời hạn (3 ngày, 1 tuần, 1 năm học) 735 HS.
Tính bình quân, cứ 11.111 HS thì có 1 em bị buộc kỷ luật thôi học có thời hạn vì đánh nhau. Theo tác giả Trần Thị Chiến và Tô Gia Kiên khi nghiên cứu về “Thực trạng bạo lực học đường và một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực ở học 8 sinh trường THCS Lê Lai, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh” năm 2011 cho kết quả 13,2% HS có thực hiện hành vi BLHĐ trong vòng 6 tháng, có 5,9% HS mang vũ khí đến trường, 12,2% HS đe dọa các bạn học khác và mắng chửi là 36,9%. Nghiên cứu cũng cho thấy 11,9% học bị đánh, 10,3% bị đe dọa và 4,1% bị trấn lột. Đặc biệt, tỷ lệ học sinh từng bị bạo lực, gia đình có sử dụng bạo lực, hay bạn bè có sử dụng bạo lực có hành vi bạo lực cao gấp 1,9 lần; 1,4 lần và 2,1 lần so với những học sinh chưa từng bị bạo lực, gia đình không sử dụng bạo lực hay bạn bè không sử dụng bạo lực [13, tr 147-153].
Trong kỷ yếu hội thảo “Tư vấn tâm lí học đường trước những tác động của cuộc cách mạng 4.0 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” cuối năm 2018 tác giả Lê Thị Xuân cho thấy tình trạng BLHĐ phổ biến ở học sinh THCS tại thành phố Vũng Tàu bao gồm bạo lực thể chất và bạo lực tinh thần. Các hình thức bạo lực tinh thần và bạo lực tương quan; là những hình thức bạo lực không gây tổn thương về mặt thể lý HS nhưng lại chính là những hình thức bạo lực có tác động sâu sắc tới sức khỏe tinh thần học sinh THCS và đây là hình thức bạo lực được HS đánh giá là thường xuyên xảy ra. Trong đó tình trạng nói xấu bạn bè (35,6 %); chế giễu, bình phẩm hình dáng (mập, lùn, đen, xấu xí, .) là 30,6%; xúc phạm bằng lời nói (chửi bới, sỉ nhục) với tỉ lệ đánh giá 20,6% và hiện tượng chế giễu giới tính (16,2%). Còn đối với các hành vi bạo lực thể xác như đánh nhau, tổ chức đánh nhau và trêu chọc dưới hình thức xô đẩy, ngáng chân, túm tóc được đánh giá xảy ra ở mức độ thỉnh thoảng, nhưng với tỉ lệ đánh giá khá cao lần lượt là 56,2% và 46,2% [38].