CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về quản lý giáo dục phòng ngừa xâm hại tình dục * Ở nước ngoài: Trong những năm gần đây, vấn đề xâm hại tình dục trẻ em thu hút sự chú ý của xã hội. Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đi sâu vào làm rõ thực trạng xâm hại tình dục trẻ em.
Trong phạm vi đề tài đề cập đến một số nghiên cứu sau: Theo Anthony Smith (2011) phân chia bạo hành tình dục trẻ em nữ thành 2 loại: Quấy rối tình dục và lạm dụng tình dục. Trong đó có những kiến giải sự khác nhau giữa hai khái niệm quấy rối tình dục và lạm dụng tình dục cũng như các biểu hiện, dấu hiệu nhận biết và các hậu quả nghiêm trọng quấy rối tình dục và lạm dụng tình dục đối với tâm lí, thể chất của trẻ [37]. Nghiên cứu của Bethany Butzer, Lorne Campbell (2008) thông qua khảo sát 5 trường tiểu học ở vùng Lorroki, vùng nông thôn nghèo khó của Châu Phi đã cho thấy: Hậu quả HS bị lạm dụng sẽ dẫn tới ảnh hưởng tiêu cực đến học tập, suy giảm hứng thú và mức độ đọc viết của dân số trong vùng từ đó làm gia tăng số học sinh bỏ học [38]. Trong nghiên cứu của Markie Falotico (2015) đã khẳng định: 88.2% các vụ hiếp dâm, cưỡng bức tình dục không xác định được thủ phạm, chỉ có 9.2% xác định được thủ phạm là người họ hàng, 1.3% vụ xác định thủ phạm là cha, cha dượng hoặc bạn trai của mẹ.
Tương tự, 87% vụ XHTD bằng hành vi sờ mó, đụng chạm vào các bộ phận kín của trẻ; 3.1% vụ xác định là người họ hàng [44]. Bộ tài liệu tập huấn “Tổ chức an toàn với trẻ em” của tác giả Kenneth W. Ervin, and Gretchen Gimpel Peacock, 2012 đã được thử nghiệm, chỉnh sửa với hơn 30 tổ chức làm việc với trẻ em tại Thái Lan, với đội ngũ tình nguyện viên đến từ 6 nước trong khu vực Sông Mê Kông và trong mẫu thu hẹp các tổ chức thành viên của ECPAT vùng Tây Phi và Châu Âu [18]. “Tổ chức an toàn với trẻ em - Cẩm nang tập huấn” của tổ chức cứu trợ trẻ em Anh (SCUK), ECPAT, UNICEF là một tư liệu đồ sộ gồm 317 trang xuất bản năm 2006.
Một trong những nội dung được đề cập khá sâu sắc trong cuốn tư liệu này là các kiến thức cơ bản liên quan tới XHTD: Khái niệm, dấu hiệu, biểu hiện, đặc trưng… của các hình thức lạm dụng tình dục trẻ em, đặc biệt nhấn mạnh vào việc dạy trẻ không giữ bí mật, nên chia sẻ với người mà trẻ cho là tin cậy nhất về những tình huống có nguy cơ hoặc đã bị XHTD [43]. Nghiên cứu này báo động tình trạng trẻ em ở các trường tiểu học bị xâm hại, nhóm nghiên cứu quan tâm đến việc điều tra xâm hại trẻ em và những ảnh hưởng của nó đối với thành tích học tập của học sinh tiểu học ở Nyandarua, vùng nông thôn củaKenya. Bảng hỏi là công cụ chính được sử dụng để thu thập dữ liệu. Kết quả phân 7 tích dữ liệu thu thập được cho thấy, xâm hại trẻ em và xâm hại trẻ em có ảnh hưởng đến thành tích học tập của học sinh.
Từ đó các khuyến nghị đã được đưa ra về yêu cầu quản lý trường lớp, giáo viên, đề ra các giải pháp thích hợp có sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường và chính quyền địa phương [43]. Trong nghiên cứu của tác giả Kelly Cristina ZavadskiI (2012), “Relationship between child abuse and academic performance in five selected Primary School in Suguta Zone of Samburu County”, đã chỉ ra các hình thức xâm hại trẻ em, nguyên nhân, nhận thức của cộng đồng đối với lạm dụng trẻ em và ảnh hưởng của xâm hại trẻ em đối với quá trình học tập của học sinh lứa tuổi tiểu học ở vùng Lorroki, vùng nông thôn nghèo khó của châu Phi [42]. Tác giả Frederick Winslow Taylor (2017) trong công trình nghiên cứu “Child abuse influence on Lower Primary SchoolPupil’s Academic achievement in arural setting inKenya”, đã chỉ ra rằng xâm hại tình dục trẻ em là một hành động gây ra thương tích nghiêm trọng đến thân thể và tra tấn về mặt tinh thần tình cảm vào trẻ em, là cố ý hoặc vô ý và có thể gây nguy hiểm cho thân thể, sức khoẻ, tình cảm, đạo đức và quá trình giáo dục cho trẻ [40]. Nghiên cứu được tiến hành thông qua khảo sát số liệu với các đối tượng bao gồm học sinh, giáo viên từ 5 trường tiểu học, phụ huynh và chính quyền địa phương.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy xâm hại ở Loroki đã ảnh hưởng tiêu cực đến học tập của học sinh ở trường tiểu học. Việc xâm hại đã dẫn đến sự suy giảm hứng thú học tập của học sinh, giảm mức độ biết đọc biết viết của dân số trong vùng, và gia tăng số học sinh bỏ học, gia tăng sự chênh lệch về giới trong tiếp cận giáo dục đối với học sinh nữ. • Ở trong nước: Nghiên cứu ở trong nước về giáo dục phòng ngừa XHTD đến nay đã được một số tác giả quan tâm ở các khía cạnh, trong phạm vi đề tài đề cập đến một số nghiên cứu như sau: Trong nghiên cứu “Nhận thức, hành vi của trẻ em đường phố đối với những nguy cơ và hành vi xâm hại tình dục trẻ em” (Qua khảo sát tại Huế và Hà Nội), tác giả Lê Thị Linh Chi (2007) cho rằng nhóm đối tượng dễ bị tấn công nhất với những hình thức xâm hại phổ biến, xu hướng khác biệt về giới trong nguy cơ xâm hại tình dục trẻ. Bên cạnh đó, tác giả cũng cho thấy nhận thức của trẻ đường phố về vấn nạn xâm hại tình dục, phản ứng của các em trước thực trạng này và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp của trẻ đối với những nguy cơ bị xâm hại tình dục.
Ngoài ra, tác giả khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của trẻ đường phố trước nguy cơ và hành vi xâm hại tình dục, quá trình tiếp nhận thông tin ngoài xã hội và hiệu quả của các chương trình hành động phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em đã và đang triển khai hiện nay [7]. Việc trẻ có nguy cơ bị xâm hại tình dục hay không cũng phụ thuộc vào gia đình. Một nghiên cứu do nhóm tác giả Phạm Xuân Thông (2019) tiến hành khảo sát 688 học sinh trên địa bàn thành phố Nha Trang trong hai tháng 10 và 11 năm 2018, 8 cho thấy xâm hại tình dục thường không xảy ra ở những gia đình có văn hóa, có nề nếp gia phong, nghĩa là nơi mà các thành viên trong gia đình biết tôn trọng lẫn nhau. Trong các gia đình đó, người lớn biết tôn trọng và bảo vệ các quyền trẻ em, biết cách giáo dục giới tính và trang bị những kĩ năng bảo vệ bản thân cần thiết cho trẻ [31].
Nghiên cứu khác có liên quan đến giáo dục phòng tránh xâm hại cho trẻ là giáo dục kỹ năng sống (Đỗ Lan Phương, 2016). Các nghiên cứu bài bản về lĩnh vực này cũng được thực hiện và công bố, kèm theo là các tài liệu hướng dẫn cho giáo viên để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh [22]. Các kỹ năng thường được tổ chức giáo dục cho trẻ bao gồm kỹ năng tự nhận thức, xác định giá trị, kiểm soát cảm xúc, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, thể hiện sự tự tin, giao tiếp, lắng nghe tích cực, thể hiện sự cảm thông, thương lượng, giải quyết mâu thuẫn, hợp tác, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, kiên định, đảm nhận trách nhiệm, đặt mục tiêu, quản lý thời gian và tìm kiếm và xử lý thông tin (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010). Như vậy, kỹ năng bảo vệ bản thân, phòng tránh xâm hại tình dụcc chưa có mặt trong các chương trình này.
Trong những năm gần đây, khi mối quan tâm đến cả giáo dục kỹ năng sống và phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em đều tăng lên thì hai lĩnh vực này được tích hợp để giảng dạy cho học sinh. Trong số các kỹ năng sống được giảng dạy và rèn luyện cho học sinh thì kỹ năng bảo vệ an toàn cho bản thân bao gồm cả phòng tránh xâm hại tình dục cũng được nhiều trường đưa vào chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đặc biệt ở cấp tiểu học. Tuy vậy, nghiên cứu về khuynh hướng dạy tích hợp và hiệu quả của mô hình này chưa được khảo cứu đầy đủ nên vẫn chưa tạo ra sự tác động đồng bộ. Các tài liệu về tích hợp giáo dục kỹ năng sống trong các môn học của nhóm tác giả Lưu Thu Thủy và cộng sự cũng chưa đề cập một cách thỏa đáng cho nội dung này [34].
Điều này có thể xuất phát từ mục tiêu khác nhau, nhưng rõ ràng là việc phối hợp liên ngành là một thách thức quá lớn nên chưa thể tạo ra sự phối hợp đồng bộ từ cộng đồng. Việc biên soạn tài liệu hướng dẫn phòng tránh xâm hại cho trẻ phần lớn các tài liệu giấy lẫn các video tại Việt Nam hiện tại đều bắt nguồn từ nước ngoài, được biên dịch lại bởi chuyên gia các tổ chức phi chính phủ hoặc phi lợi nhuận. Chính các tổ chức này cũng là lực lượng đầu tiên phát hành những tài liệu miễn phí để tuyên truyền, giáo dục và huấn luyện cho giáo viên, học sinh và trẻ về công tác phòng tránh xâm hại cho trẻ em. Các nhà nghiên cứu, thực hành giáo dục Việt Nam cũng trên cơ sở tham khảo các tài liệu này để biên soạn lại các cẩm nang hướng dẫn phụ huynh nhưng chỉ mới tập trung vào vấn đề xâm hại tình dục trẻ em.
Tác giả Phạm Thị Thúy cũng có các bài viết đăng tải trên các trang báo phổ thông nhằm đề cập đến vấn đề phòng tránh xâm hại tình dục từ gia đình và nhà trường. Nổi bật, tác giả đề cập đến trách nhiệm của cha mẹ trong việc dạy con trẻ về vấn đề giới tính và bảo vệ bản thân. Một số tác giả đã biên soạn các sách hướng dẫn phòng chống XHTD trẻ em như:“Cẩm nang Giáo dục giới tính giúp trẻ tránh bị xâm hại – “Luật bàn tay” và 9 “Nguyên tắc đồ lót” (2016) của tác giả Nguyễn Lan Hải đã cô đọng kiến thức về giới tính bằng công thức dễ nhớ nhất: “Luật bàn tay” và “Nguyên tắc đồ lót” dành cho mọi trẻ em.