CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRUNG HỌC PHÓ THÔNG 1.Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, được hình thành và phát triển cùng với lịch sử xã hội loài người, luôn được mọi tầng lớp, mọi giai cấp, moi thời đại quan tâm. Với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, những tư tưởng đạo đức đã xuất hiện khá sớm trong lĩnh vực triết học Trung Hoa, Án Độ, Hi Lạp cô đại. Theo chiều dài lịch sử, có rất nhiều quan điểm về đạo đức: Phương Tây, thời Hi Lạp - La Mã cổ đại. có nhà triết học Sorate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện, muốn xác định được chuẩn mực đạo đức phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa học.
Phương Đông cổ đại, có nhà hiền triết nổi lếng của Trung Q là Khổng Tử với thuyết “Nhân - LỄ - Chính danh”, trong đó “Nhân là vế Š hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của người *. Từ thế kỷ XVII đến thể kỷ XX, có các nhà giáo dục lớn như Komenxky (Tiệp Khắc), V.S Macarenco cũng có nhiều nghiên cứu làm nền tảng cho việc GDĐD. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin là khoa học và tiến bộ nhất. Chủ nghĩa Mác - Lê Nin cho rằng, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng.
Nó phản ánh và chịu sự chỉ phối của tồn tại xã hội. Khi tồn tại xã hội được thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo. Như vậy, đạo đức là một phạm trù mang tính vĩnh hằng nhưng lại mang đặc điểm của giai cấp, của dân tộc và thay đổi chuẩn mực trong từng giai đoạn lịch sử. Ở Việt Nam, từ xa xưa ông cha ta đã rat quan tâm đến vấn đề đạo đức, luôn đề cao việc GDĐĐ, lễ nghĩa ở mỗi con người.
Trong thời đại ngày nay, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục nói chung, GDĐĐ nói riêng, luôn có một ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của xã hội. Người thường xuyên chăm lo đến vấn đề đạo đức, đó là đạo. đức cách mạng, đạo đức xã hội chủ nghĩa, như là “Cẩn, Kiểm, Liêm chính, Chí công vô tư”, là “Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm". Đặc biệt, Người rất quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ nhằm giúp cho họ có được những phẩm chất đạo đức tốt và năng lực chuyên môn cao, để kế thừa sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Trước lúc đi xa, Bác còn căn dặn Đảng ta phải chăm lo GDĐĐ cách mạng cho đoàn viên thanh niên, học sinh thành những người “vừa hồng vừa chuyên”. Ngày nay, vấn để GDĐĐ cũng được nhiều tác giả trong nước quan tâm. Có thể kể đến công trình nghiên cứu của một số tác giả như: GDĐĐ trong nhà trường (1988) của tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt; Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường (1994) do Thái Duy Tuyên chủ biên; Các đạng đạo đức xã hội (1983), Đạo đức học (1996) do Trần Hậu Kiểm chủ biên; Đạo đức học (1988) của Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng; VỀ phát triển con người toàn diện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (2004) của tác giả Phạm Minh Hạc; Đạo đức học Mác ~ Lê Nin (2005) do Võ Trọng Dung chủ biên; Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội (2001) của tác giả Huỳnh Khải Vinh; Một số nguyên tắc giáo dục nhân cách có hiệu quả trong nhà trường phổ thông (2005) của tác giả Huỳnh Thị Kim Dung và nhiều tác giả khác. Các tác giả đã nghiên cứu trên những cách tiếp cận khác nhau, tạo nên sự phong phú và đa dạng về nội dung và phương pháp nghiên cứu.
Riêng vấn đề QL công tác GDĐĐ cho HS trong giai đoạn hiện nay, có rất ít công trình nghiên cứu, chủ yếu là các đề nghiên cứu luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục của các tác giả như: Đào Ngọc Thành (2005): “Các biện pháp quan lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao kiến thức giáo dục. đạo đức cho học sinh trường THPT, cho cha mẹ hoc sinh tai Hà Nội”; Bùi Văn Phi (2006): *Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Càng Long, tinh Tra Vinh”; Huynh Hoàng Chung (2007) nghiên cứu vấn đề ở Thành phố Huế, Nguyễn Thị Hạnh (2008) nghiên cứu vấn đề ở Nha Trang, Lê Nhơn (2009) ở tỉnh ĐãkNông, Phạm Hồng Việt (201 1) ở tỉnh Quảng Bình. Các đề tài trên đây cho thấy, chủ đề nghiên cứu tập trung vào việc quản lý hoạt động giáo dục đức học sinh. Nói cách khác, cho đến thời điểm hiện tại, tại huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Tho chua có tác giả nào nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh THPT ở Huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý và chức năng quản lý 1. Quản lý “Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người” [24, tr\1]. Thực vậy, con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội (C.Mác) và trong các mối quan hệ xã hội đó, con người có thể là chủ thể quản lý hoặc là đối tượng chịu sự quản lý của các chủ thể khác.
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Quán lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một tổ chức "40, trl363]. Theo tác giả Bùi Minh Hi “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra [24, trl2]. Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [39, tr40]. 10 Theo tác giả Phạm Khắc Chương: “Quán lý một đơn vị với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tổ của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra" [13, tr6].
Các tác giả khác như Vũ Ngọc Hải, Hồ Văn Vĩnh, Trần Kiễi .khi bàn về quản lý đã chỉ ra các thành tố của nó, đó ~ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý; ~ Quản lý là một hoạt động khoa học và nghệ thuật, tác động lên các thành tố của hệ thống bằng những phương pháp phù hop; ~ Mục tiêu của quản lý là nhằm đưa hệ thống đạt đến mục tiêu phát triển cao hơn. Như vậy, tác giả hiểu: Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Các chức năng quản lý ‘Theo quan điểm quản lý hiện đại, có thể khái quát một số chức năng cơ. bản sau: 4) Chức năng kế hoạch: Đây là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và quy định những biện pháp tốt nhất đễ thực hiện mục tiêu.
Khi tiến hành chức năng kế hoạch, người quản lý cần hoàn thành được. hai nhiệm vụ là xác định đúng những mục tiêu cần để phát triển giáo dục và quy định những biện pháp có tính khả thi (phù hợp với quan điểm, đường lối theo từng giai đoạn phát triển của đất nước). b) Chức năng tổ hức: Đây là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo việc thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra. Chức năng tổ chức là chức năng thứ hai trong quá trình quản lý, nó có vai trò hiện thực hóa các mục tiêu của tổ chức; có khả năng tạo ra sức mạnh.
mới của tổ chức, cơ quan, đơn vị, thậm chí của cả hệ thống nếu việc phân phối sắp xếp nguồn nhân lực khoa học hợp lý. Sức mạnh mới của tổ chức có. thể mạnh hơn nhiều lần so với khả năng vốn có của nó nên người ta còn nhấn mạnh vai trò này bằng tên gọi “hiệu ứng tổ chức”. ©) Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu với chất lượng cao.
Là chức năng thứ ba trong một quá trình quản lý nó có vai trò cùng với chức năng tô chức để hiện thực hóa các mục tiêu. Thực chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của các chủ thể quản lý với những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tô chức, hệ thống giáo dục và trở thành nhu cầu chung của mọi cán bộ công chức, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác và mang hết khả năng để làm việc. Do vậy, chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động. 4) Chức năng kiểm tra: Là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức.
Là chức năng cuối cùng của một quá trình quản lý, có vai trò giúp cho. chủ thê quản lý biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức độ như thể nào, tốt, vừa, xấu, đồng thời cũng biết được những quyết định quản lý ban hành có phù hợp với thực tế hay không, trên những cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động, giúp đỡ hay thúc đẩy các cá nhân, tập thể đạt được các mục tiêu đề ra. Như vậy, chức năng kiểm tra thê hiện rõ vai trò cung cấp thông tin và trợ. giúp các cá nhân và đơn vị hoàn thành nhiệm vụ theo mục tiêu và kế hoạch đã xác định.
Khái niệm đạo đức Cách hiểu thông dụng, từ xa xưa “đạo đức” đồng nghĩa với “luân lý" là những chuẩn mực hành vi được xã hội quy định, được mọi người thừa nhận và tự giác thực hiện, nó được dùng để chỉ một thành tố trong tính cách và giá trị của một con người “Đức” và “Tài”. Thuật ngữ “đạo đức” là từ Hán Việt, gồm “Đạo” là con đường, “Đức” là tính tốt hoặc những công trạng tạo nên.