Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ THEO HƯỚNG CÙNG THAM GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu về tổ chức giáo dục giới tính ở nước ngoài Giáo dục giới tính là vấn đề được nhiều nước quan tâm và đã được quan tâm từ lâu. Ở các nước châu Âu, nơi có quan điểm về giới “thoáng” hơn châu Á thì vấn đề giáo dục giới tính được bàn đến từ rất sớm.
Tại Liên xô cũ các nhà khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm khoa học về việc giáo dục giới tính cho con người và coi đó là nội dung quan trọng cần phải giáo dục cho học sinh. Do đó họ cũng đưa ra nhiều phương hướng quan trọng trong việc giáo dục giới tính ở Liên Xô.l Lênin cũng cho rằng: “cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì vấn đề quan hệ giới tính và hôn nhân gia đình được coi là cấp bách” [21]; A.x Makarenco (Liên Xô cũ) đã khẳng định vai trò cấp thiết và quan trọng của giáo dục giới tính và đã đưa ra những nguyên tắc, nội dung và phương hướng giáo dục giới tính cho học sinh. Ông xem giáo dục giới tính là một mặt của giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh.Makarenko viết: “ Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên. Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan hệ giữa nam và nữ, mối quan hệ dần tới mục đích hạnh phúc cùa con người, không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính” [21]; Năm 1981, hội đồng bộ trưởng Liên Xô (cũ) đã ra Chỉ thị cho tất cả các trường THCS trong cả nước thực hiện chương trình giáo dục giới tính.
Chương trình này được biên soạn cụ thể cho các cấp học. Đặc biệt, nội dung chương, trình giáo dục ở hai lớp cuối cấp II có thêm một môn học là đạo đức học và tâm lý học 6 đời sống gia đình. Việc thực hiện nội dung đề ra vẫn chưa thống nhất. Đến năm 1960, giáo dục giới tính mới được khẳng định, nghiên cứu rộng rãi và hoàn thiện dần [17];.
Tại Thụy Điển, năm 1942, Bộ Giáo dục đã thí điểm đưa giáo dục tình dục vào nhà trường. Đến năm 1956 thì dạy phổ cập cho các bậc học từ tiểu học đến trung học. Giáo dục giới tính là môn học bắt buộc trong trường học. Học sinh được các kiến thức sinh học liên quan đến giới tính và cả quá trình lịch sử của giới tính, tình dục và tính dục [19].
Tại Đức, vấn đề giáo dục giới tính được tiến hành từ những năm 1960. Năm 1974, một chương trình giáo dục giới tính đã được dạy cho học sinh phổ thông từ lớp 8, gồm 15 chủ đề khác nhau và trên 20 sách tham khảo được qui định [19]. Tại Pháp, từ những năm 1973, các chương trình giáo dục giới tính đã có trong các nhà trường. Học sinh lớp 8 và lớp 9 được học khoảng 30 - 40 giờ học giới tính.
Cuối khóa học các em được làm quen và học cách sử dụng bao cao su. Chính phủ Pháp quyết định đưa kiến thức giới tính lên đài truyền hình vào tháng 2/2000 [17]. Tại Hoa Kỳ vào năm 1941, lần đầu tiên bà Alava Myrdal đã nêu lên sự cấp thiết giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh trong các trường học và cho người lớn trong hệ giáo dục không chính quy. Bên cạnh đó, vào năm 1943 các ông Fridrich Osborn và Frank Lorimer đã kiến nghị, vấn đề dân số cần được đưa vào chương trình phổ thông.
Tạp chí “Các thành tựu sư phạm” (1962), Waren s.Thompson đã chỉ ra rằng biến động dân số có liên quan đến phúc lợi của con người. Trong bài “Sự bùng nồ dân số” ông đã nói rõ quan điểm phải đưa giáo dục giới tính vào hệ thống giáo dục chính quy. Giáo sư Sloan Wayland (Đại học Cô-lôm-bia - Hoa Kì) đã biên soạn và tiến hành giảng dạy tài liệu “Các động lực dân số” và “ Các giai đoạn mãn sinh sản” vào năm 1946 [19]. Tại Trung Quốc, khoảng những năm 1980, giáo dục giới tính được đưa 7 vào giảng dạy khi đó đất nước Trung Quốc đã mở cửa hơn.
Theo nhà xã hội học Li Yinhe: "Trẻ em cần được giáo dục giới tính khi còn nhỏ. Chúng cần phải biết kiến thức cơ bản như sự khác biệt giới tính, vấn đề là các giáo viên cũng nên nói với trẻ những gì là đúng và những gì là sai trái về đạo đức tình dục, và dạy các em để bảo vệ mình khỏi các cuộc tấn công tình dục"[2]. Tại Nhật Bản, chính sách giáo dục giới tính truyền thống Nhật Bản được gọi là “Giáo dục thuần khiết”. Năm 1947, Bộ Giáo dục Nhật Bản ra văn bản “Về việc thực thi giáo dục thuần khiết” và cho ra tiếp “ Những điều cơ bản về giáo dục thuần khiết” vào năm 1949, tiếp theo là sự ra đời của “Đề án thí điểm thực thi giáo dục thuần khiết” vào năm 1955.
Như vậy từ “giáo dục thuần khiết” được sử dụng lặp đi lặp lại, trong khi đó, từ “giáo dục giới tính” được sử dụng khá thận trọng. Phải đến năm 1986 từ “giáo dục giới tính” mới bắt đầu được sử dụng rộng rãi. Trong văn bản liên quan đến giáo dục giới tính lưu hành từ năm 1986 của Bộ Giáo Dục Nhật Bản, cụm từ “Giáo dục giới tính” vẫn được coi là có ý nghĩa tiêu cực. Chủ đề giáo dục kinh nguyệt được phổ cập rộng rãi (bởi vì nếu kinh nguyệt dài hơn một thời kỳ nhất định có thể đã có thai).
Chủ để giáo dục này được phổ biến cho học sinh tiểu học lớp 6 (tương đương lớp 6 ở Việt Nam) và tiến hành đối với học sinh nhỏ tuổi hơn. Tuy nhiên việc giáo dục này được thực hiện bằng cách đưa những học sinh nữ vào phòng kín, tắt điện và xem hướng dẫn trên video. Đối với học sinh nam cũng có giáo dục giới tính tương tự. Sau này, việc giáo dục giới tính cho học sinh nam và học sinh nữ được tiến hành chung.
Các em được đưa vào phòng tối xem video hướng dẫn cách dùng các dụng cụ tránh thai. Phải đến nửa đầu những năm 1980 giáo dục giới tính ở Nhật Bản mới có biến chuyển do sự ảnh hưởng của AIDS (trường hợp đầu tiên bị phát hiện dương tính với HIV là năm 1985). Từ đó đến nay, nhà nước và các tổ chức phi chính phủ khác đã phát hành nhiều tờ rơi liên quan đến HIV AIDS và nhằm cả tới đối tượng học sinh THCS. Bao cao su cũng được khuyến khích sử dụng với mục đích tránh thai là công cụ phòng chống HIV AIDS [19].
8 Như vậy trên thế giới, từ phương Tây sang phương Đông, các quốc gia đều quan tâm đến giáo dục giới tính từ lâu nay. Nghiên cứu về giới tính và tổ chức giáo dục giới tính ở Việt Nam Ở Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký đã ban hành Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974, Chỉ thị nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái” [21]; Bộ Giáo dục đã đưa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước. Năm 1985 bắt đầu có nhiều công trình nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính, tình yêu, hôn nhân và gia đình và được thừa nhận. Nhiều nhà khoa học có uy tín như: Trần Trọng Thuỷ, Đặng Xuân Hoài, Đức Uy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan…đã nghiên cứu những mặt, khía cạnh khác nhau về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên [19].
Đến năm 1988, được sự tài trợ của UNEPA cùng với sự giúp đỡ kỹ thuật của UNESCO khu vực, Bộ giáo dục - đào tạo đã giao cho Viện Khoa học giáo dục Việt Nam thực hiện đề án VIE/ 88/P09 với sự chỉ đạo của nhiều nhà khoa học như: Trần Trọng Thuỷ, Ngô Đặng Minh Hằng. Đề án đó nghiên cứu sâu rộng các vấn đề như: + Quan niệm về tình yêu, tình dục trong hôn nhân và ngoài hôn nhân. + Quan niệm về đời sống gia đình và kế hoạch hoá gia đình. + Nguyện vọng đối với việc học tập về đời sống gia đình.
Vào những năm 80 của thế kỷ trước, một số công trình nghiên cứu của các đề án cấp quốc gia như VIE/88/P09, VIE 88/P11 do tổ chức PATH CANADA 9 tài trợ cùng nhóm nghiên cứu là các nhà khoa học tầm cỡ của Việt Nam đã xem việc giáo dục giới tính là vấn đề mấu chốt của giáo dục đạo đức đối với tuổi vị thành niên nói chung và học sinh bậc THCS nói riêng. Các dự án này chính thức đưa vào thực hiện rộng rãi trong các trường THCS từ năm học 1990- 1991 và mở ra một bước ngoặt quan trọng trong việc nghiên cứu, quy hoạch, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ở các cơ sở giáo dục trực tiếp làm công tác giáo dục giới tính. Đội ngũ này phải là những người có phẩm chất, có năng lực trình độ chuyên môn nhất định, có tầm nhìn trong lĩnh vực giáo dục giới tính, nhằm đáp ứng kịp thời sự nghiệp "trồng người". Giáo dục giới tính bao gồm mối quan hệ giữa sự phát triển tình dục và nhân cách, thể chất và tinh thần của trẻ em và thanh thiếu niên.
Việc giáo dục thông qua các hình thức lồng ghép vào một số bộ môn văn hóa, sinh hoạt nội khóa, ngoại khóa bằng các phương pháp dạy học tích cực và việc trao đổi kinh nghiệm để tìm ra những giải pháp tốt nhất cho việc giáo dục giới tính trong các trường phổ thông. Đề án VIE 88/P09 chỉ ra rằng: "Vị thành niên và thanh niên là một giai đoạn trong cuộc đời con người. Lớp thanh niên này được thông tri giáo dục về sức khỏe sinh sản - vị thành niên sẽ trưởng thành lên thành người lớn thì lại có một lớp vị thành niên mới cần được thông tri giáo dục về sức khỏe sinh sản - vị thành niên.