Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức và quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THCS Chương 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THCS huyện Vapi, tỉnh Salavăn, nước CHDCND Lào Chương 3: Biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THCS huyén Vapi, tinh Salavăn, nước CHDCND Lào. PHAN KET LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ ~ TÀI LIỆU THAM KHẢO - PHY LUC 14 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO ĐỤC ĐẠO ĐỨC VÀ QUẢN LY CONG TAC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngo: Từ thời cổ đại ở phương Đông, Khổng Tử (551-479-TCN ); nhà triết học nỗi tiếng của Trung Quốc, nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo.
Ông coi trọng vai trò của GDĐĐ và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục cũng như về tâm lý học. Nội dung và mục tiêu chủ yếu của GD được ghỉ trong Tứ thư và Ngũ Kinh. Nhung cụ thể và tập trung nhất trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Nhạc, Xuân, Thu” rất xem trọng việc giáo dục đạo đức. Ông xây dựng học thuyết Nhân - Trí - Dũng”, trong đó “Nhân ” là lòng thương người, là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người.
Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, có chủ trương nỗi tiếng truyền lại cho đến nay “Lễ mri”, lấy “Lể” để xử ở đời. Muốn vậy mọi người phải biết tu thân làm gốc. [13] Komensky (1592 — 1670) nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp Khắc, ông luôn nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em, bởi trẻ em. cũng như những cây no trong vườn ươm: thiết phải được quan tâm, chăm sóc, tưới bón, tỉa tót.
Ông kêu gọi các bậc cha, mẹ, các nhà giáo va tất cả những ai là nghề nuôi day tré; “Hay mai mãi là một tắm gương trong đời sống, trong mọi sinh hoạt dé trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính. "[19] Chủ tịch Hồ Chí Minh của dân tộc Việt Nam đã luôn quan tâm đến việc rèn luyện nhân cách cho thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi học sinh. Bác đã dạy: “Có /ài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”, khó chứ không phải là không làm được, cũng nghĩa là khác khác hẳn với vô dung. Qua đó mới thấy tài tuy quan trọng nhưng đức còn cần thiết hơn bởi lẽ người có tài mà sống vị ki, chỉ biết dùng tài năng để phục vụ cho bản thân mình không thôi thì chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí với lối sống và làm việc cá nhân như vậy có thể gây hại cho tập thể, cho xã hội.
Tuy nhiên, coi trọng đức cũng không có nghĩa là 15 Bác xem nhẹ tài mà theo Người giữa chúng không thể có mặt này mà thiếu mat kia, đức và tài phải song hành cùng nhau, thống nhất hữu cơ với nhau mới giúp cho con người hoàn thiện nhân cách bản thân Tác giả Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng trong cuốn sách “Đạo đức học ” (Nhà xuất bản giáo duc, 1998) đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức nhằm. giúp giáo viên có một cơ sở vững chắc để dạy học cho học sinh. Các tác giả đã bàn nhiều về các vấn để giáo dục đạo đức như phạm trù giáo dục trong đạo đức gia đình, đạo đức trong tình bạn, tinh yêu.từ đó các tác giả đưa ra những nhận định và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phô thông. Tác giả Đặng Quốc Bảo trong bài viết “Rèn luyện lòng tự trọng trong giáo dục hiện nay” trên báo Giáo dục và thời đại số đặc biệt cuối tháng 5/2012 đã khẳng.
định: “Các gia đình, các nhà trường, các đoàn thể trong xã hội ta thời gian qua đã có rat nhié cố gắng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, cho các thành viên. Tuy nhiên ta mới chú ý đến giáo dục đạo đức hướng ngoại, mà chưa coi trọng đúng mức giáo dục hướng nội là giáo dục biết hỗ thẹn, xấu hồ, lòng chân chính tự ái, tự trọng. Chiến lược giáo dục của đất nước ta trong thời kỳ đổi mới, mục tiêu Nhân cách - Nhân lực của nền giáo dục nước ta trong thời kỳ đổi mới rất cẳn có sự nhắn mạnh chủ để này trong các bài học về đạo làm người cho thế hệ trẻ”. Luận văn thạc sỹ: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Lý Thái Tổ, Cầu Giấy, Hà Nội” của tác giá Lê Thị Thanh Bình Luận văn thạc sỹ: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của học sinh Trường trung học phổ thông Tây Hồ, Thành phố Hà Nội” của tác giả Lê Ngọc Tiến Từ những nghiên cứu trên nhìn chung các đề tài nghiên cứu đi sâu vào việc xác định các nội dung giáo dục đạo đức, định hướng các giá trị đạo đức, các biện pháp giáo dục đạo đức (GDĐĐ) cho học sinh THCS.
Các nghiên cứu trong nước Ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (nước CHDCND Lào), vấn đề giáo dục đạo đức đã và đang trở thành mối quan tâm của các nhà sư phạm nói chung và các nhà quản lý giáo dục nói riêng. Trong các văn kiện của Đảng nhân dân cách 16 mạng Lào đã thường xuyên thể hiện sự quan tâm đến việc xây dựng con người Lào, đặc biệt là đạo đức của con người Lào qua từng thời kỷ. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Lào rất quan tâm đến việc phối hợp giữa các lực lượng trong giáo dục đạo đức học sinh, coi đó là nguyên tắc cơ bản đảm bảo kết quả giáo dục trong các loại hình trường. Các nhà giáo dục đã quan tâm nghiên cứu và từng bước giải quyết vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau.
Nhưng, hiện nay ở nước CHDCND Lào chưa có đề tài nào nghiên cứu về những biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THCS nói chung. và học sinh THCS huyện Vapi tỉnh Salavăn nói riêng. Vì vậy tác giả chọn dé tai “Biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học cơ sở huyện Vapi, tỉnh Salavăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” với hy vọng. đây là công trình nghiên cứu góp phần thêm công sức và sự vận dụng hệ thống lý luận quản lý giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ học sinh trường.
THCS Vapi, cũng như các trường THCS trên địa bàn huyện Vapi 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Trong quá trình phát triển của xã hội, bất cứ một lao động xã hội nào, một cơ sở, tổ chức thực hiện có quy mô từ mức độ thấp đến cao đều cần có sự tổ chức và điều khiển lao động để đạt được các mục đích mà con người mong muốn. Dạng lao động mang tính đặc thù của tổ chức - điều khiển các hoạt động theo những tiêu chí, yêu cầu, quy định cụ thể gọi là quản lý.
Quản lý thường xuyên biến đồi, phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, có vai trò quan trọng trong đời sống con người, tồn tại trong mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. Trong thực tiễn, cho đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm quản lý, dẫn đến việc đưa ra những định nghĩa khác nhau về khái niệm này. Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quán lý là những tác động định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong 16 chức để vận hành 16 chức, nhằm đạt mục đích nhắt định " [8]. “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý dé chi huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vỉ và hoạt 17 động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [§] Theo tác giả Đảng Quốc Bảo cho rằng: “Hoạt động OL nhằm làm cho hệ thống hoặc động theo mục tiêu đặt ra tiến tới trạng thái có chất lượng mới " [2 tr.5] Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì cho rằng” “Quản jý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra" [3, tr.9] Như vậy, tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều định nghĩa về quản lý, nhưng tắt cả các ý nghĩa đều hướng đến các vấn đề cót lõi (nội hàm) của khái niệm quản lý để trả lời các câu hỏi: “Ai là người quản lý? (chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quan lý cái gì? (khách quan quản lý); Quản lý như thế nào? (phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (công cụ quản lý); Quản lý nhằm đề làm gì? (mục tiêu quản lý)”.
Từ các khái niệm trên ta có thê tóm lại: Quản Ii ld su tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí (người quản lí) theo kế hoạch chủ động và phù hợp với qui luật khách quan tới khách thể quản lí (người bị quan li) nhằm tạo ra hiệu qua can thiết vì sự tồn tai, ồn định và phát triển của tổ chức. Chủ thể Đối tượng QL QL Mục tiêu i Ỉ QL Noidung |__| Cong cu, QL PP QL Sơ đồ 1. Mô hình bản chất hoạt động quan ly 1. Quản lý giáo dục Cũng như khái niệm QL, khái niệm QLGD tuy vẫn còn nhiều quan điểm chưa hoàn toàn thống nhất, song đã có nhiều quan điểm cơ bản đồng nhất với nhau.
Theo tác giả Trần Kiêm, “Khái niệm quản lý giáo dục”, có nhiều cấp độ, ít nhất có hai cáp độ chủ yếu: Cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô.