CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNGHỌC SINH GIỎI CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu của một số nước trên thế giới Trí tuệ con người được coi là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, phát triển toàn diện của mỗi một quốc gia, dân tộc. Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài đã được nhiều nước trên thế giới chú trọng.
Năm 1922 một số nước phát triển ở châu Âu đã bắt đầu nghiên cứu “Di truyền nhân tài” và tìm ra chỉ số IQ. Nhiều quốc gia đã tổ chức các kỳ thi chọn HSG, học sinh năng khiếu, bồi dưỡng thành nhân tài để đáp ứng yêu cầu phát triển và phục vụ nghiên cứu khoa học. Ở nước Mỹ, một siêu cường về trình độ khoa học và công nghệ, với nền giáo dục tiên tiến, hiện đại. Đến thế kỉ XIX mới bắt đầu chú ý đến vấn đề học sinh giỏi và tài năng.
Bước sang thế kỉ XX, học sinh giỏi đã trở thành điểm nhấn của giáo dục nước Mỹ với hàng loạt các tổ chức và các trung tâm nghiên cứu, bồi dưỡng HSG ra đời. Hàng năm, Mỹ có chính sách phát hiện, tuyển chọn HSG, học sinh năng khiếu theo nguyên tắc giáo dục chuyên biệt, tuy nhiên vẫn đảm bảo kiến thức phổ thông cơ bản. Nhật Bản, được biết đến với cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và sự phát triển kinh tế “thần kỳ” vào những năm 60 của thế kỷ XX. Kết quả đó nhờ phần lớn vào chiến lược giáo dục: thu hút và phát triển nguồn nhân lực tài năng đã đưa Nhật Bản từ một nước lạc hậu, thiếu tài nguyên trở thành cường quốc đứng hàng đầu thế giới như hiện nay.
Trung Quốc, từ thời nhà Đường những trẻ em có tài năng được học tập và giáo dục bằng những chương trình đặc biệt. Đến năm 1985, Trung Quốc xây dựng một chương trình giáo dục đặc biệt để dành cho hai loại đối tượng là: học sinh yếu kém và học sinh giỏi, cho phép học sinh giỏi có thể học vượt lớp. Qua đó chúng ta thấy rằng, các nước trên thế giới đều rất coi trọng vấn đề phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng HSG; đây là một trong những mục tiêu trong 6 chiến lược phát triển chương trình giáo dục phổ thông của mỗi quốc gia. Họ coi công tác phát hiện và bồi dưỡng HSG để đào tạo những con người tài năng là quốc sách để phát triển bền vững đất nước.
Nghiên cứu ở Việt Nam Từ xa xưa ông cha ta đã khẳng định: "Nhân bất học, bất tri lý" - làm người mà không có học thì không thể phân biệt được đâu đúng đâu sai. Năm 1484 trên tấm bia tiến sỹ đầu tiên dựng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám ghi lại lịch sử khóa thi năm 1442 có khắc dòng chữ: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, nguyên khí mạnh thì thế nước mạnh và hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu và thấp hèn. Trong bài viết “Tìm người tài đức”, ngày 20/11/1946, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước nhà cần phải kiến thiết, kiến thiết phải có nhân tài, trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức …”. Muốn có nhân tài phải “trồng”, phải chăm sóc, bồi dưỡng rất công phu mới mong gặt hái thành công.
Kế thừa truyền thống hiếu học, trọng giáo dục, trọng nhân tài của dân tộc Việt Nam, trong trong hoàn cảnh hết sức khó khăn của các cuộc kháng chiến chống xâm lược và can thiệp của nước ngoài, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp GD&ĐT, quan tâm đến nhân tố con người và bồi dưỡng người hiền tài. Đặc biệt là những năm gần đây, từ khi có nghị quyết trung ương 2 khóa VIII, vấn đề nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài càng được coi trọng. Với quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, chất lượng giáo dục đã có nhiều chuyển biến, HSG ngày càng nhiều. Vì thế HSG quốc tế của Việt Nam đã được khẳng định và sánh vai với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường nói chung và nhà trường THCS nói riêng từ lâu đã trở thành vấn đề được nhiều nhà quản lý quan tâm. Nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu hoạt động thực tiễn tại các cơ sở giáo dục, tìm ra các biện pháp, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý. Trong đó, có quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG với mục đích phát triển tiềm năng của học sinh, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 7 Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường từ lâu đã trở thành vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới, trong đó có Việt Nam quan tâm.
Sau thời gian học tập, và nghiên cứu tài liệu cũng như các công trình nghiên cứu đi trước, tôi nhận thấy từ năm 2010 đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ, nâng cao năng lực quản lý hoạt động chuyên môn, quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG, hoạt động dạy và học để nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà trường. Một số luận văn Thạc sỹ, Tiến sỹ đã nghiên cứu thực trạng và biện pháp về quản lý bồi dưỡng HSG các cấp như: Đề tài "Quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường THCS huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh", Tác giả Ngô Văn Mậu, luận văn thạc sĩ QLGD-2014[24]; Đề tài "Quản lý bồi dưỡng HSG tại trường THCS Lê Hữu Trác, tỉnh Hưng Yên"- Tác giả Nguyễn Thị Thanh Nam, luận văn thạc sĩ QLGD – 2012 [25]; Đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi các môn khoa học xã hội ở trường phổ thông Dân tộc nội trú THPT huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên” – Tác giả Trần Hồng Quân, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục – 2019 [30]. Đề tài "Quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG ở trường THCS quận Kiến An, thành phố Hải Phòng", Tác giả Đỗ Đức Thiện, luận văn thạc sĩ QLGD-2013 [33]; Đề tài "Quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG tại trường THCS Lê Quý Đôn, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong bối cảnh hiện nay", Tác giả Hoàng Khắc Tiệp, luận văn thạc sĩ QLGD- 2012 [34]; Đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi các môn khoa học tự nhiên ở trường THCS trên địa bàn Quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng” – Tác giả Trịnh Doãn Toán, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục – 2017 [35]. Công tác bồi dưỡng HSG ở trường THCS nói chung, chưa có đề tài nghiên cứu chuyên sâu về: "Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi các môn khoa học xã hội ở trường trung học cơ sở huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương".
Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Quản lý Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa: “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; “Lý” là tổ chức và 8 điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. Quản lý là một hiện tượng xã hội được xuất hiện từ rất sớm, như Các Mác thì “tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cần đến sự chỉ đạo, điều hành những hoạt động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Qua đó ta thấy Mác đã đánh giá rất cao vai trò của quản lý, người chỉ huy, điều hành. Hoạt động của mỗi người là độc lập, nhưng nếu con người hoạt động trong một môi trường chung thì cần phải có sự quản lý, chỉ đạo, điều hành. Trong vấn đề nghiên cứu khoa học, rất nhiều những quan điểm khác nhau về quản lý, và theo cách tiếp cận khác nhau như: - Pall Hersey và Ken Blanc Hard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” thì xem xét “Quản lý như là một quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích của tổ chức” [28]. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin: “Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống xã hội.
Trên cơ sở vận dụng đúng đắn những quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”.Marx: “Quản lý là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá trình lao động phát triển xã hội” [21]. Theo tác giả Hà Sỹ Hồ thì: “Quản lý là một quá trình hoạt động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [19]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [29]. Từ những quan niệm trên cho thấy: Quản lý được thực hiện trong một tổ chức, hay trong một nhóm người cùng thực hiện mục đích đã đề ra.
Quản lý luôn 9 đặt trong mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý dưới tác động của môi trường, vì vậy quản lý phải đặt dưới điều kiện của sự biến đổi. Yếu tố con người luôn giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý. Quản lý có 4 chức năng cơ bản sau: + Kế hoạch hoá: Là cách xác định mục tiêu, mục đích đối với những thành tựu tương lai của tổ chức, các con đường, giải pháp, cách thức để đạt được mục tiêu đó. + Tổ chức: Thiết lập cấu trúc của tổ chức và bảo đảm sự phối hợp trong hệ thống nhằm thực hiện mục tiêu đề ra.
+ Điều khiển: Chỉ đạo hệ thống hoạt động theo đúng kế hoạch nhằm thực hiện được mục tiêu đề ra. + Kiểm tra: Nhằm đánh giá, xử lý kết quả đạt được của tổ chức, đây cũng là quá trình tự điều chỉnh. Chu trình quản lý Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Điều khiển 1. Quản lý trường học Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ.