CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về đổi mới PPDH Nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Viện Đại học Đào tạo GV ở Pháp như Guy Brousseau, Claude Comiti, M. Margolinas đã đặt cơ sở khoa học cho những tác động sư phạm, trong đó phân tích môi trường không phải là một yếu tố tĩnh mà là thành tố thuộc cấu trúc HĐDH, môi trường không chỉ ảnh hưởng đến người dạy, người học mà quan trọng là làm thay đổi người dạy, người học nhằm đảm bảo sự thích nghi của họ trước sự thay đổi môi trường [10].
Hướng dẫn phương pháp xác lập kế hoạch QLGD cấp vi mô để đánh giá hiệu quả dạy học thông qua hiệu quả đào tạo.Campbel đã nghiên cứu khá hoàn chỉnh về các vấn đề QLGD dựa vào các học thuyết quản lý chung, đặc biệt là thuyết hành vi trong quản lý (quan hệ con người). Nhà nghiên cứu V.Xukhomlinxki cùng một số tác giả khác như V.Goocscaia,… đã đưa ra một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng trường phổ thông tập trung vào một số nội dung sau: Việc phân công hợp lý công việc giữa Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng phụ trách công tác dạy học; Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GV; Tổ chức hội thảo khoa học; Dự giờ và phân tích bài học. Các tác giả trên đã bước đầu chú ý đến vai trò quản lý của hiệu trưởng trong việc nâng cao chất lượng GD của nhà trường, tuy nhiên mới chỉ dừng ở vai trò quản lý nói chung, chưa chú ý đến quản lý chỉ đạo PPDH của GV. Tác giả Michel Develay lại đề cập đến vấn đề thay đổi PPDH trong nhà trường dưới góc độ đào tạo bồi dưỡng GV.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kiến thức bị “lão hóa” rất nhanh, các phương tiện nghe nhìn và thông tin đại chúng đã phát triển đến mức giúp cho con người tiếp thu thuận lợi và nhanh chóng 6 nhiều thông tin bổ ích. Nhà trường và GV dần dần mất đi đặc quyền truyền đạt và phân phối kiến thức. Do đó, công tác đào tạo bồi dưỡng GV cần được đổi mới theo quan điểm lấy việc học của HS là trung tâm, tức là việc đào tạo nghề dạy học không chỉ được xác định bằng hoạt động dạy của thầy mà trước hết phải bằng hoạt động học của trò [8]. Trong cuốn “Quản lý sự thay đổi”, sách bồi dưỡng cán bộ quản lý GD của dự án đào tạo giáo viên THCS, tác giả Đặng Xuân Hải đưa ra 6 câu hỏi, theo đó quản lý sự thay đổi phải tìm được câu trả lời khi bắt tay vào “quản lý sự thay đổi”: 1) cái gì đang/cần thay đổi, kết quả mong đợi là cái gì? 2) Dự báo trạng thái hiện hành của tổ chức: tình trạng hiện tại của tổ chức (so với sự thay đổi của bối cảnh) là như thế nào? 3) Khoảng cách hiện hữu giữa 2 trạng thái nêu trên là gì? 4) có năng lực/tự sẵn sàng” hay “rào cản/chống đối” khi tiến hành sự thay đổi không? 5) Điều người quản lý sự thay đổi mong muốn và khả năng thực hiện là gì? 6) Tính phù hợp và khả năng hiện thực hóa sự thay đổi? Tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương trong bài viết “Quản lý sự thay đổi trong nhà trường” đã trình bày những thay đổi diễn ra trong mọi lĩnh vực của nhà trường, phân tích các nội dung quản lý sự thay đổi mà hiệu trưởng nhà trường cần thực hiện đó là quản lý sự thay đổi về các hoạt động chuyên môn, về HS, về văn hóa nhà trường.
Tác giả đã chỉ rõ vai trò của Hiệu trưởng là chủ thể quản lý sự thay đổi. Để nhà trường có thể thích nghi, tồn tại và phát triển kịp sự phát triển của thời đại, người hiệu trưởng nhà trường cần chủ động quản lý sự thay đổi thông qua các chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, đồng thời chú trọng rèn luyện các năng lực và phẩm chất cần thiết để thành công trong quản lý sự thay đổi. Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng để tiến hành các PPDH tích cực hóa học tập, cần thiết kế bài học dựa trên nguyên tắc dựa vào người học và hoạt động của người học. Theo tác giả, có 4 loại hoạt động cơ bản mà người học phải thực hiện để hoàn thành mỗi bài học: (1) Hoạt động phát hiện, tìm tòi giúp người học phát hiện sự kiện, vấn đề, tình huống, nhiệm vụ học tập và tìm ra những liên hệ, xu thế, dữ liệu, thông tin, giá trị.
trong các tình huống, sự kiện đó; (2) Hoạt động xử lý, biến đổi dữ liệu, thông tin và giá trị đã thu được giúp người học xây dựng ý tưởng, tạo dạng tri thức, hình thành khái niệm, hiểu và phát biểu được những định lý, quy tắc, 7 khái niệm.; (3) Hoạt động áp dụng kết quả xử lý, biến đổi và phát triển khái niệm, giúp người học hoàn thiện trí thức, khái niệm qua hành động thực tế, trong tình huống trước và nhờ đó phát triển thêm các sự kiện, bổ sung thông tin, trải nghiệm giá trị; (4) Hoạt động đánh giá quá trình và kết quả, giúp người học điều chỉnh nội dung và cách học, phát triển những ý tưởng mới. Để thiết kế PPDH cần đảm bảo 4 nguyên tắc: Tuân thủ bản chất khái niệm PPDH; Thích hợp, hài hòa với thiết kế tổng thể của bài học; Dựa vào những phương thức học tập và các kiểu PPDH chung; Dựa vào kinh nghiệm sư phạm và trình độ phát triển kỹ năng dạy học của GV. Dạy học thông qua tổ chức các HĐH cho HS là con đường hình thành và phát triển năng lực HS, phù hợp với xu hướng đổi mới GD, đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, tác giả cũng có nhiều bài viết bàn về dạy học và PPDH như: Bản chất của dạy học hiện đại; Khái niệm tình huống dạy học trong dạy học giải quyết vấn đề; Quan hệ giữa PPDH đại cương và PPDH cụ thể trong quá trình dạy học, Về vấn đề đánh giá chất lượng dạy học bộ môn; Nhận diện và đánh giá kỹ năng.[14] Tháng 10/2012, Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức Hội thảo khoa học “Đổi mới và nâng cao chất lượng GD phổ thông”, bà Nguyễn Thị Bình - nguyên Bộ trưởng Bộ GD, nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cho rằng: Về sứ mạng và mục tiêu GD: Dạy và học làm người - làm người lương thiện và công dân có trách nhiệm là mục tiêu số 1, là sứ mạng không thể thoái thác của nhà trường phổ thông.
Về PPDH “cần phải rũ bỏ mọi hình thức áp đặt, thay vào đó, hết sức coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tư duy độc lập, sáng tạo cho HS. Chỉ có như vậy nhà trường mới đào tạo được những công dân tự tin, tự chủ, tự lập để có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội”. Các nghiên cứu đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận về PPDH, khái niệm về PPDH, phân loại và hình thành hệ thống PPDH, sự kết hợp giữa các PPDH truyền thống và hiện đại. Không có một hay một số PPDH nào là độc tôn mà cần có sự phối hợp, đa dạng hóa các phương pháp trong dạy học và sự vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp có hiệu quả tùy theo điều kiện thực tế.
Về quản lý nhà trường và quản lý đổi mới PPDH 8 Tác giả Thái Duy Tuyên nêu một số vấn đề rất cần cho sự phát triển lý luận và thực tiễn nhà trường như: Cơ sở xã hội của dạy học hiện đại, chuyển phương pháp khoa học thành phương pháp tự học, vấn đề tái hiện và sáng tạo trong dạy học, lý luận về hệ thống bài tập trong dạy học. Tác giả đã đề cập đến vai trò quản lý của người hiệu trưởng với vấn đề đổi mới PPDH: “quá trình đổi mới của nhà trường cũng như đổi mới PPDH chịu sự tác động trực tiếp cách thức quản lý của hiệu trưởng”; Bản chất hoạt động quản lý PPDH của hiệu trưởng; Nội dung quản lý PPDH của hiệu trưởng; Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý PPDH… Các nhà khoa học khác của Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu một cách khoa học về các vấn đề sau: Khái niệm quản lý, QLGD, quản lý trường học, quản lý HĐDH cùng các chức năng, nguyên tắc, phương pháp quản lý. Đổi mới nội dung dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống; về vấn đề lấy HS làm trung tâm trong HĐDH. Với nhiều bài viết của các tác giả như: “Đổi mới và nâng cao chất lượng GD phổ thông” (Phạm Minh Hạc); “Bảo đảm công bằng xã hội trong hoạt động GD, thực trạng và giải pháp” (Phạm Tất Dong); “Xây dựng đội ngũ nhà giáo chất lượng cao, khâu then chốt của đổi mới căn bản, toàn diện nền GD Việt Nam” (Nghiêm Đình Vỳ); “Bài toán chất lượng GD phổ thông Việt Nam nên giải bằng các phương pháp xã hội học” (Đặng Ứng Vận)’ “Cải cách GD nhìn từ góc độ GD phổ thông” (Nguyễn Trần Bạt), Phan Văn Kha “Quản lý nhà nước về GD”, Nguyễn Lộc “Lý luận quản lý” (2010) và “Cơ sở lý luận xây dựng chiến lược trong GD” (2009), về kỹ năng lãnh đạo và quản lý của Đặng Quốc Bảo (2003); và nhiều nhà nghiên cứu về GD khác như: Nguyễn Tiến Đạt, Trần Khánh Đức, Đặng Xuân Thanh, Đặng Bá Lãm, Phạm Thành Nghị, Nguyễn Đức Chính, Đặng Xuân Hải, Trần Hồng Quân; Hà Thế Ngữ,.
Ngoài ra, một số luận án tiến sĩ bàn về quản lý đổi mới PPDH ở các cơ sở GD như: Luận án tác giả Vũ Đình Chuẩn: Phát triển đội ngũ GV tin học trường THCS; tác giả Huỳnh Công Minh: Một số biện pháp chỉ đạo đổi mới PPDH theo yêu cầu chương trình THCS mới, gần đây có tác giả Trần Văn Quang: Quản lý đổi mới PPDH ở trường THCS thành phố Đà Nẵng, Quản lý chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể của tác giả Võ Ngọc Vĩnh… 9 Nhìn chung các nghiên cứu tập trung nhiều vào vấn đề quản lý nhà trường nói chung, một số nghiên cứu tập trung vào quản lý quá trình dạy học và quản lý đổi mới PPDH.