CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TĂNG CƯỜNG TIÊNG VIET CHO TRE NGUOI DAN TOC THIEU SO 6 TRUONG MAU GIAO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ớ nước ngoài Ngôn ngữ nói chung vả ngôn ngữ của mỗi dân tộc là tài sản quý báu của nhân loại. Nó tổn tại va phát triển đi lên cũng với xã hội loài người, nó luôn đồng hành và là phương tiên giao tiếp của con người.
Con người tạo ra ngôn ngữ vả biển ngôn ngữ thành tải sản quý báu của văn mình nhân loại. Ngôn ngữ là chỉa khỏa giúp cho nhiều công trình nghiên cứu được tỏa sáng. Không những vậy ngôn ngữ có sức hút mạnh mẽ, lôi cuốn sự tham gia nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học, từ những lĩnh vực khác nhau: Lịch sử, Triết học, Tâm lí học, Ngôn ngữ học, Giáo dục học. Vai trỏ phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ lâu được các nhà khoa học ngoài nước quan tâm nghiên cứu Có thể kế đến các tác giả như: FD Saussure trong giáo trình "Ngôn ngữ học đại cương" (1916) đã đưa ra một số luận điềm quan trọng: n ngữ về cơ bản lả mí công cụ giao tiếp xa h là một hệ thống kí hiệu chỉnh thể.
Ngôn ngữ bao gồm những yếu tố có liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc vào nhau. Giá trị của những yếu tổ này được xác định bởi sự có mặt đồng thời cúa yếu tố khác trong cùng một hê thông. Theo ông, ngôn ngữ là một bộ phận của hoat động ngôn ngữ, là sản phẩm của xã hội, là kho tảng do hoạt động nói tích lũy lại trong mỗi người, tại các phân nhất định trong bộ não. Borodis với cuốn: Phương pháp phát triển tiếng cho trẻ em (NXBGD Matxcova — 1974).
Xôkhin với tác phim: Phương pháp phát triển lời nói trẻ em (Matxcova ~ 1979).LTikhééva véi tác phẩm: Phát triển ngôn ngữ trẻ em (Mátxcơva 1997).Lomarep cũng có những cuốn sách có nội dung tương tự về đề tài này.Tikhêêva đã đề ra phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hệ thống, trong đó bả nhấn mạnh cần dựa trên cơ sở tổ chức cho trẻ tìm hiểu thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem. tranh, kể chuyện cho trẻ nghe. Bà đưa ra các biện pháp cụ thể để phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ mẫu giáo như: nỗi chuyện với các em, giao nhiệm vụ cho các em, đảm. thoại, kể chuyện, đọc truyện, thư từ, học thuộc lòng thơ ca.
Những tư tưởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với việc giáo dục phát triển ngôn ngữ cho tré mim non.Bloomfiel - nhà ngôn ngữ học theo trường phái ngôn ngữ học miêu tả của Mĩ trong cuốn "Language" (1993) quan niệm rằng: Mọi hành vi ngôn ngữ của con người đều tủy thuộc vào những chuỗi nguyên nhãn - hậu qủa (kích thích - phản ứng). Vi vậy có thé dua vào nội dung của lời nói để đánh giá chủ thể tạo ra nó. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em được các nhà tâm lí- ngôn ngữ học nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau.Vygôtxky (Mátxcơva 1979) quan niệm rằng bản chất sự phát triển ngôn ngữ nhằm mục đích giao tiếp và nhận thức. tất nhiên sự phát triển ngôn ngữ của trẻ không chỉ thuần tủy dựa trên sự phát triển khả năng nhận thức của trẻ.
Nhấn mạnh đến vai trò giao tiếp của ngôn ngữ, A.Leonchiep (Mátxcơva 1979) lại cho rằng sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trước hết là sự phát triển của các phương thức. Điển hình về những về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em phải kẻ đến nghiên cứu của giáo sư E.Chikhieva với tác phẩm * Phát triển ngôn ngữ trẻ em dưới tuôi đến trường phô thông”, của Xokhin với các tác phẩm “Phương pháp phát triên lời nói trẻ em” (Mátxcơva 1979), M.Tsepsenko với “Đọc và kế chuyện văn học ở vườn trẻ”. Từ năm 1983, ở các trường sư phạm mẫu giáo, do ảnh hưởng của giáo dục học Liên Xô người ta đã sớm đưa vào chương trình đảo tạo cô giáo mẫu giáo môn học Phát triển ngôn ngữ trẻ tuổi mầm non. Đây là môn học được nghiên cứu rất kỹ lưỡng ở Liên Xô với nhiều nhà sư phạm nỗi tiếng.
Nhiều tác giả Nga có đồng góp quan trọng với việc hình thành chuyên ngành phát triển ngôn ngữ trẻ tuổi mầm non ở nước ta, có thể kế đến các tác giả: Xôkhin với các tác phâm “Phương pháp phát triển lời nói tré em” (Mátxcơva, 1979) và “Những cơ sở tâm lý iáo dục học của việc phát triển lời nói trẻ em” (Matxcova, 2002); Barodis A.M với cuỗn “Phương pháp phát triển tiếng cho trẻ em” (Mátxcơva, 1974); các tác giả Phedorenko L.K, cũng có những cuốn sách tương tự. Nhóm tác giả Shek-Kam Tse, Pik-Fong Tsui, Heiken To, Kam-Fong Wu, Victor Laing, Lu-Sai Lam (2009) với bài viết *Một cuộc điều tra về các cách hiệu. quả để thu hút sự tham gia của các bậc cha mẹ là người dân tộc thiêu số để tăng cường việc học tiếng Trung” của con em họ. Sự tham gia của phụ huynh được coi là rất quan trọng đối với sự thành công ở trường học của trẻ em, do đó.
điều quan trọng là phải tìm cách thu hút phụ huynh tham gia vào các hoạt động học tập của học sinh, đặc biệt là đối với những em có nên táng văn hóa đa dạng. Bải báo này trình bày các khái niệm tham gia của phụ huynh và sử dụng một trường hợp làm gương mẫu để nấm bắt các yếu tô tạo điều kiện để phụ huynh là người dân tộc thiểu số (DTTS) tham gia nhằm tăng cường việc học tiếng Trung của con em minh trong bối cảnh Hỗng Kông. a 6 thanh céng dé thu hit cha me DTTS bao gồm: có ng cơ học tập cao, các yếu tô chương trình tốt (như sử dụng các yếu tô học tập thú vị, nhạy cảm về văn hỏa), thiết lập một môi trưởng giống như ngôn ngữ đầu tiên và được trao quyền. Các định hướng tương lai cho giáo dục và các lĩnh vực dịch vụ xã hội đề thu hút các bậc cha mẹ DTTS cũng được thảo luận [2S].
Nam 2011, Unesco phố hợp với Đại học Vietoria (Úe) cho ra đời cuồn sách Tăng cường học tập của trẻ từ các nền táng ngôn ngữ đa dang: giáo dục song ngữ hoặc. đa ngôn ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ trong những năm đầu. Bải phê binh tải liệu này thảo luận về giáo dục song ngữ hoặc đa ngôn ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ cho trẻ em bắt đầu từ thời thơ ấu. Báo cáo: (1) thông báo cho các nhả hoạch định chính sách È các nghiên cứu vả thực hảnh hiện có trong việc giảng dạy bằng tiếng mẹ đẻ ở những năm đầu mẫu giáo và đầu cấp tiểu học; vả (2) nâng cao nhận thức vẻ giả trị của việc duy tri ngôn ngữ và văn hóa trên thế giới bằng cách thúc đây và cung cấp nguồn lực giáo dục.
dựa trên tiếng mẹ đẻ cho trẻ nhỏ [36] Qua những nghiên cứu trên cho thấy, các quốc gia trên thể giới đều rất quan tâm, chú trọng đến hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo bằng nhiều phương. pháp khác nhau. Dựa trên đặc diém, tâm sinh lý của mỗi dân tộc sẽ có những những phương pháp truyền dạy ngôn ngữ cho phù hợp cho trẻ mẫu giáo. Từ những nghiên cứu trên, đặt nền tảng so sánh, vận dụng trong luận văn của tác giả.
Các nghiễn cứu trong nước Phát triển ngôn ngữ cho trẻ tuổi mẫm non là một bộ phận của chuyên ngành phương pháp dạy học tiếng Việt. Lịch sử nghiên cứu lĩnh vực này đã được nhiều người quan tâm ở những khia cạnh khác nhau. Tử những năm 70-80 thé ky XX cho dén nay các thành tựu nghiên cứu vẻ tiếng Việt đã khá phong phú. Việc giảng dạy ngôn ngữ và tiếng Việt ở các trường đại học, cao đăng sư phạm và một số trường dai hoc tong hop.
tĩ được từng bước nâng cao chất lượng. Từ năm 1980 đến nay, yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt ngây. một đỏi hỏi cao. Bắt đầu bằng các hội nghị, hội thảo về nâng cao chất lượng dạy học.
tiếng Việt, các bài đăng ở các báo, tạp chí. “Dạy nói cho trẻ trước tuổi lớp 1” - Phan Thi ; “Day phat 4m va lam gi vốn từ cho trẻ mẫu giáo” - Tạ Thị Ngọc Thanh). Những công trình này hướng đến trao đổi kinh nghiệm và mang tính vận dụng. Khoảng thời gian này, đã có những cuỗn giáo trình đầu tiên vẻ phát triển ngôn ngữ cho trẻ tuổi mẫm non được sử dụng trong các trường đảo tạo GV mam non: Tap thê tác giả Lương Kim Nga.
Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Khoa với cuôn *?iếng Liệt, [ăn học và phương pháp giáo dục" (1988) cũng đề cập đến các phương pháp giáo dục tiếng Việt thích hợp để phủ hợp với các lứa tuổi ở các cấp học khác nhau. Các tác giá Nguyễn Quang Ninh, Bủi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thanh Hồng (1998) ¡ và phương pháp phảt triển lời nói cho trẻ”, đề cập tới tỉ vào đó tắc giả xây dựng các phương pháp nhằm phát triển và hoàn thiện lời nói cho trẻ. Tập thể tác giả Cao Đức Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Hỗ Lam Hồng với giáo trình *Tiổng Liệt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” (1993). Nguyễn Xuân Khoa với tác phẩm “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” (1999).
Ngày nay, ngày cảng có nhiều người nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ trẻ em. Bui Kim Tuyển với để tải nghiên cứu khoa học cấp Bo: “Nay dung nội dung, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (Mã số B98-4959). Một số luận văn, luận án phát triển ngôn ngữ ở trường mẫm non được thực hiện. Cé thé k lên luận án tiến sĩ của Lưu Thị Lan (1996) “Những bước phát triể ngôn ngữ trẻ em 1 — 6 tuổ luận án đã chỉ rõ các bước phát triển về ngữ âm của trẻ em Việt Nam bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 — 1 tuổi), giai đoạn ngôn ngữ (1 - 6 tuôi), về mặt ngữ âm có những bước tiền đài đặc biệt là giai đoạn 4 - 6 tuổi.
Các bước phát triển về ngữ pháp. trong ngôn ngữ cúa trẻ em Việt Nam được tác giá nghiên cứu rất cụ thê từng lứa tuổi với các loại câu đơn, câu phức như câu phức chính phụ, câu phức đảng lập. Theo tác giá để phát triển vốn tử cân tô chức cho trẻ quan sát sự vật, hiện tượng và đảm thoại, cùng với trẻ phân tích sự vật, hiện tượng để giúp trẻ nhận thức mối quan hệ giữa các hiện tượng.