CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, những nghiên cứu về bảo vệ môi trường xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ XIX, nhưng chủ yếu là các nghiên cứu về những tác động của hoạt động con người đối với môi trường. Thực tế, thuật ngữ GDBVMT mới chỉ thực sự được sử dụng từ nửa sau thế kỷ XX, và nó nhanh chóng được các nhà khoa học, các nhà bảo vệ thiên nhiên và các nhà giáo dục quan tâm.
Nhiều tổ chức quốc tế cũng đã được thành lập với nhiệm vụ hướng đến việc giáo dục bảo vệ môi trường như: Liên minh quốc tế về bảo vệ môi trường (1948), Chương trình Liên Hợp quốc về môi trường (1972). Nhiều hội thảo, hội nghị về vấn đề bảo vệ môi trường cũng đã được tổ chức trên bình diện quốc tế: Hội nghị thế giới về môi trường ở Stockholm (Thụy Điển) vào tháng 6 năm 1972, Hội thảo quốc tế Belgrade (Nam Tư cũ) vào tháng 10 năm 1975, Hội nghị ở Tbilissi (Liên Xô cũ) vào tháng 10 năm 1977… Các hội nghị này cũng đã đưa ra những tuyên bố, hiến chương, các chương trình hành động nhằm đẩy mạnh việc GDBVMT cho công dân. Hội nghị thượng đỉnh Trái đất Rio - 92 (Brazil) đã khẳng định và đưa vấn đề GDBVMT vào chương trình nghị sự 21 về “Giáo dục, đào tạo môi trường và những nhận thức của công chúng” với yêu cầu: “Đưa khái niệm GDBVMT và phát triển bền vững vào tất cả các chương trình giáo dục”. Ở các quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Đức… GDBVMT có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Tại nhiều nước, GDBVMT đã trở thành môn học. Ngoài ra, các nhà trường còn tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa về tìm hiểu, khám phá thiên nhiên và môi trường sống xung quanh. Trong khu vực Đông Nam Á, việc GDBVMT cho học sinh cũng đã được chú trọng. Có nhiều nước đã xây dựng chương trình GDBVMT một cách hệ thống như Thái Lan, Singapore, Indonesia…hoặc giảng dạy lồng ghép trong các môn học khác như Malaysia, Philippine… Tuy hình thức và phương pháp GDBVMT ở các nước khác nhau nhưng đều đã khẳng định sự cần thiết và cấp bách của GDBVMT trong nhà trường cũng như trong cộng đồng xã hội.
Các nghiên cứu trong nước 5 Ở Việt Nam, GDBVMT được bắt đầu từ những năm cuối thập niên 1970 và GDBVMT trong trường phổ thông được thực hiện vào thập niên 1980 cùng với kế hoạch cải cách giáo dục. Từ đó đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này, có thể kể ra như: - Tác giả Nguyễn Đình Thái có công trình nghiên cứu “Vị trí và bước đầu định hướng nội dung, biện pháp GDBVMT ở bậc tiểu học Việt Nam”. Tác giả Nguyễn Thị Vân Hương có đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng GDBVMT cho học sinh tiểu học”. Qua các công trình nghiên cứu của mình, hai tác giả này đã đưa ra được mục tiêu, nội dung và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở bậc tiểu học.
- Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng với đề tài “Xác định các hình thức tổ chức và phương pháp GDBVMT qua môn địa lý ở trường phổ thông cơ sở”. Tác giả Nguyễn Dược với cuốn “Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông”. Qua các nghiên cứu trên, các tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong các nhà trường, đồng thời bước đầu đã đưa ra một số phương pháp và cách thức tiếp cận GDBVMT. Thông qua việc thay đổi sách giáo khoa, các tác giả sách giáo khoa đã chú trọng đến việc đưa GDBVMT vào sách, đặc biệt là trong các môn Sinh học, Địa lý, Hóa học, Kỹ thuật.
Đến đợt thay sách giáo khoa năm 2002, kiến thức môi trường cơ bản đã được tích hợp vào hầu hết các môn học. Nhằm định hướng cho việc triển khai nhiệm vụ GDBVMT trong các nhà trường, Bộ GDĐT đã xây dựng bộ tài liệu tích hợp GDBVMT trong các môn học: Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Công nghệ. Bộ tài liệu trên đã được Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2008. Như vậy, qua nghiên cứu, có thể thấy ở Việt Nam đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu các cơ sở lý luận, các mô hình hoạt động và đưa ra các giải pháp mang tính tổng thể. Bên cạnh đó, một số tác giả đã nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động GDBVMT tại các địa bàn cụ thể như tác giả Nguyễn Thị Thương nghiên cứu GDBVMT ở các trường THPT thành phố Plâyku tỉnh Gia Lai, tác giả Nguyễn Văn Thuần nghiên cứu GDBVMT ở các trường THPT huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An, tác giả Nguyễn Văn Linh nghiên cứu GDBVMT ở các trường THPT thành phố Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh, tác giả Trần Tự Trọng nghiên cứu GDBVMT ở các trường THPT vùng ven biển tỉnh Quảng Nam hay tác giả Võ Thị Mỹ Thu nghiên cứu GDBVMT ở các trường tiểu học ven biển thành phố Đà Nẵng. Đến nay chưa 6 có công trình nào nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường THPT huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 1.
Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường a. Quản lý Từ nhiều góc độ, khái niệm quản lý có thể được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau: Theo từ điển Tiếng Việt (1998): “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất định” hoặc “quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [31]. Theo Henry Fayol: “Quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra” [23]. Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý là những tá c động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất" [13].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [12]. Theo Nguyễn Bá Sơn: "Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động" [30]. Qua các định nghĩa trên đây, về cơ bản, khái niệm quản lý có những nội hàm sau đây: Thứ nhất, quản lý là sự lựa chọn các tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý.
Thứ hai, quản lý là sự sắp xếp hợp lý của các tác động đã lựa chọn. Thứ ba, bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy nhân tố con người trong một tổ chức. Vì vậy, các tác động quản lý có mục đích, có kế hoạch, sắp xếp hợp lý, được tổ chức kiểm tra sẽ có tác dụng làm cho đối tượng quản lý vận động và phát triển đúng mục tiêu đã xác định trước. Như vậy, có thể nói hoạt động quản lý là làm giảm tính bất định, và làm tăng tính tổ chức của đối tượng quản lý.
Tóm lại, quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển để đạt được mục tiêu đã đề ra. Quản lý giáo dục Cũng như khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau: Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [14]. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên, trọng tâm vẫn là thế hệ trẻ, cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân” [1].
Như vậy: Quản lý giáo dục là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý giáo dục lên đối tượng quản lý giáo dục theo những quy luật khách quan nhằm đưa hệ thống giáo dục đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý nhà trường Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, đối với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [18]. Quản lý, điều hành một cơ sở giáo dục và đào tạo chủ yếu xung quanh ba vấn đề lớn đó là: quản lý quá trình giáo dục và đào tạo; quản lý các điều kiện, môi trường, nguồn lực và quản lý đội ngũ [15]. Quản lý nhà trường có thể xem là quản lý giáo dục ở tầm vi mô.
Song cần nhận rõ tác động của chủ thể quản lý đến nhà trường có hai loại tác động từ bên ngoài và tác động từ bên trong nhà trường. - Tác động từ bên ngoài nhà trường là tác động của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho các hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường.