Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH CÓ HỌC LỰC YẾU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Giáo dục là chìa khoá tiến tới một xã hội tốt hơn, vai trò của giáo dục là phát triển tiềm năng của con người, giáo dục là đòn bẩy mạnh mẽ nhất để tiến vào tương lai, giáo dục là quyền cơ bản nhất của con người, giáo dục là điều kiện tiên quyết để thực hiện nhân quyền, dân chủ, hợp tác trí tuệ, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Như vậy, giáo dục là phương tiện mà xã hội dùng để đổi mới và phát triển điều kiện sinh tồn của chính bản thân xã hội.
Giáo dục có vai trò to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động và thức tỉnh tiềm năng sáng tạo trong mỗi con người, tạo môi trường cho sự phát triển kinh tế xã hội. Đến lượt mình, sự phát triển kinh tế xã hội lại tác động trở lại tạo điều kiện cho giáo dục phát triển. Chúng ta đã bước vào thế kỷ thứ XXI, thế kỷ của nền kinh tế tri thức, sự phát triển của xã hội phụ thuộc vào “Tư duy sáng tạo và tài năng sáng chế của con người”. Sự thịnh vượng về kinh tế, chính trị của mỗi quốc gia ở thế kỷ này phải dựa trên sức mạnh về chất xám, đội ngũ những người nghiên cứu khoa học kỹ thuật, những người lao động lành nghề, sáng tạo và tự chủ trong công việc.
Do đó giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia và trở thành một trong những vấn đề quốc sách hàng đầu trong chiến lược phát triển đất nước của tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng. Việc dạy học đã được hình thành và phát triển trong một quá trình lịch sử lâu dài. Từ xa xưa việc dạy học đã được nhiều nhà triết học, nhà giáo dục học ở các nước phương Đông và phương Tây đề cập, nghiên cứu đến. Ở phương Đông, có Khổng Tử (551- 479 TCN), một triết gia, nhà giáo dục lừng danh của Trung Quốc từng cho rằng: “Đất nước phồn vinh, yên bình thì người lãnh đạo đất nước cần chú trọng đến 3 yếu tố: Thứ (làm cho dân đông lên), Phú (làm cho dân giàu), Giáo (làm cho dân được giáo dục).
Ông đã khẳng định rằng giáo dục là cần thiết cho mọi người “hữu giáo vô loại” (việc giáo dục không phân biệt đẳng cấp). Ở phương Tây, có Xôcrat (469 – 339 TCN). Ông cho rằng để nâng cao hiệu quả dạy học cần có phương pháp giúp thế hệ trẻ tự khẳng định, tự phát hiện tri thức mới, phù hợp với chân lý. Trong thời kỳ tích lũy tư bản chủ nghĩa, Jonh Locke (1632 – 1704) cho rằng cơ sở khoa học của giáo dục trẻ em là đặc điểm cá nhân của trẻ, phải tìm ra những phẩm chất khác nhau của trẻ vì rằng muốn giáo dục trẻ phải làm sao thích ứng được với những cá tính của trẻ.
Về nguyên tắc giáo dục, ông cho rằng không được nhồi nhét điều gì vào trí 5 nhớ trẻ mà vốn chúng không thích thú; Thầy giáo cần khơi gợi lòng ham mê say sưa của trẻ, qua đó hướng trẻ đến với tri thức. Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ GV, đó là nghiên cứu của các nhà giáo dục học Xô Viết trước đây. Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động QL của HT [16].Xukhomlinxki còn chỉ rõ tầm quan trọng của việc tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm bài dạy. Ông đã chỉ ra thực trạng yếu kém của việc phân tích sư phạm bài dạy cho dù hoạt động dự giờ và góp ý với GV sau giờ dự của nhà QL diễn ra thường xuyên.
Từ đó ông đưa ra nhiều cách phân tích sư phạm bài dạy cho GV. Rõ ràng trên thực tế và trong lý luận, nhiều tác giả của nhiều nước trên thế giới từ cổ đến kim đã rất quan tâm đến việc nghiên cứu HĐDH, QL HĐDH để tìm ra những biện pháp QL hữu hiệu. Các nhà khoa học trên thế giới cho rằng, nền giáo dục tương lai có những đặc trưng: - Các môn học hướng đến giúp ích cho HS để các em thích nghi với xã hội; tự lý giải được vấn đề bản thân quan tâm, kể cả đầu tư vào tương lai cuộc đời mình; tìm phương hướng có tính biến đổi của xã hội và xác định được vai trò của mình trong quá trình biến đổi đó; mang những điều đã học được chuyển hóa thành trách nhiệm tương lai. - Kỹ thuật giảng dạy trong thế kỷ XXI mang tính đa phương diện, giúp cho việc thay đổi triệt để nội dung và phương pháp dạy học, hình thành các phương thức học tập mới.
- Xu thế toàn dân học tập suốt đời phát triển mạnh. Về mặt thời gian giáo dục sẽ kéo dài suốt đời; về mặt không gian, giáo dục sẽ mở rộng đến toàn xã hội. Vì vậy việc học tập của mỗi con người là không ngừng học tập nâng cao trình độ và nhất là những người có học lực yếu phải cố gắng vươn lên trong học tập để tiến bộ: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống với nhau, học để làm người. Và xu hướng của thế giới hiện nay không những quan tâm đến việc bồi dưỡng HS giỏi mà còn rất quan tâm và chú trọng đến việc bồi dưỡng HS có học lục yếu.
Ở Việt Nam Sinh thời Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã rất quan tâm đến giáo dục, người đã khẳng định “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa”. Con người mà Bác Hồ mong muốn đào tạo ra là người không chỉ có lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh anh dũng, có lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức cách mạng mà còn phải có tri thức khoa học, kỹ năng lao động sản xuất. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của giáo dục trong 6 sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phát triển đất nước. Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã nêu rõ: “Cần phải khai thác và sử dụng nhiều nguồn nhân lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người là quí báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt là đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp.
Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với nền khoa học, công nghệ hiện đại. Giáo dục phải làm tốt nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, đội ngũ lao động cho khoa học và công nghệ”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo là: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học, thực hiện “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”. Như vậy mục đích của dạy học ngày nay không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ cho HS những kỹ năng, kiến thức, những kinh nghiệm mà loài người đã tích luỹ được, mà còn phải bồi dưỡng cho HS năng lực sáng tạo ra những kiến thức mới, phương tiện mới, cách giải quyết mới chưa từng có như: Năng lực giao tiếp, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực tự học, năng lực tự cập nhật kiến thức, khả năng thích ứng… Trang bị cho con người những năng lực nói trên là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường.
Làm thế nào để nhà trường có thể cung cấp cho xã hội những sản phẩm tốt của giáo dục đáp ứng yêu cầu trên? Để làm được nhiệm vụ đó đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục phải đầu tư nghiên cứu để tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường. Vì vấn đề chất lượng giáo dục đã trở thành vấn đề của thời đại, vấn đề sống còn của tất cả các nhà trường trong thời đại ngày nay. Một trong những giải pháp đó là đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý giáo dục trong các nhà trường. Vấn đề quản lý giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là vấn đề có ý nghĩa trong việc "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài", đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của mỗi nhà trường.
Ngoài tài liệu dưới dạng sách, báo như đã nêu còn có thể kể đến rất nhiều luận văn thạc sĩ của các học viên khóa học trước ở các trường Đại học trên phạm vi cả nước như: Nguyễn Quốc Phong: Quản lý hoạt động bồi dưỡng HS yếu kém ở trường THCS thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, luận văn Thạc sĩ QLGD 2014; Thân Trọng Thuận: Quản lý hoạt động bồi dưỡng HS yếu kém ở trường THPT Cao Bình tỉnh Cao Bằng, luận văn Thạc sĩ QLGD 2014; Trần Văn Thế: Biện pháp quản lý hoạt động phụ đạo HS học lực yếu kém ở các trường trung học phổ thông huyện Krông Pa tỉnh Gia Lai, luận văn Thạc sĩ QLGD 2015; Bùi Thụy Ngọc Hân: “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng học viên yếu kém ở trung tâm giáo dục thường xuyên và kỹ thuật hướng nghiệp tỉnh Đồng Tháp”, luận văn Thạc sĩ QLGD 2016; Lê Thanh Tâm: Quản lý hoạt động phụ đạo HS học lực yếu kém ở các trường trung học phổ thông miền núi tỉnh Quảng Ngãi, luận văn Thạc sĩ QLGD năm 2017; Doãn Bá Nguyên: Quản lý hoạt động bồi dưỡng HS học yếu 7 ở các trường THCS huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, luận văn Thạc sĩ QLGD năm 2017,… Các tài liệu dù mang tính khái quát hay chỉ đề cập tới một khía cạnh nào đó trong quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động bồi dưỡng HS có học lực yếu nói riêng. Đó là những công trình có giá trị về lý luận và thực tiễn phù hợp với công việc của mỗi tác giả trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ ở mỗi địa phương khác nhau và có thể giúp hiệu trưởng các trường THPT khác tham khảo, áp dụng trong công tác quản lý của mình.