phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý công tác tăng cƣờng tiếng Việt cho trẻ ngƣời dân tộc thiểu số tại trƣờng mầm non; Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác tăng cƣờng tiếng Việt cho trẻ ngƣời dân tộc thiểu số tại các trƣờng mầm non huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam; Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác tăng cƣờng tiếng Việt cho trẻ ngƣời dân tộc thiểu số tại các trƣờng mầm non huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TĂNG CƢỜNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TRƢỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Tiếng Việt vừa là môn học cơ bản, vừa là môn học công cụ để trẻ tiếp thu tri thức và kỹ năng của các bộ môn khác trong chƣơng trình giáo dục. Do vậy, để có một số nghiên cứu về tăng cƣờng tiếng Việt cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số.
Trong phạm vi cho phép có thể đề cập đến một số nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ em nói chung và tăng cƣờng tiếng Việt cho trẻ ngƣời dân tộc thiểu nói riêng nhƣ sau : Trong cuốn “Bàn về phƣơng pháp”, Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con ngƣời khác với động vật. Ông nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, “cái tín hiệu duy nhất ấy chắc chắn là của một tƣ duy tiềm tàng trong cơ thể” và kết luận rằng: “Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con ngƣời và con vật” [20]. Theo ông, khi trẻ em gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào hợp tác với ngƣời lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những ngƣời này giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ. Trong mối quan hệ hợp tác này, quá trình tƣ duy trong một xã hội nhất định đƣợc chuyển giao sang trẻ.
Do ngôn ngữ là phƣơng thức đầu tiên mà qua đó, con ngƣời trao đổi các giá trị xã hội, L. Vƣgotxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tƣ duy [18]. Việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non (0-6 tuổi) cũng đƣợc rất nhiếu tác giả trong và ngoài nƣớc quan tâm và tiếp cận sâu ở từng góc độ khác nhau trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Ở Việt Nam, vấn đề dạy ngôn ngữ đƣợc quan tâm muộn hơn.
Mãi đến những năm 70 của thế kỷ XX mới xuất hiện một vài bài báo bàn về vấn đề này, nhƣng cũng chỉ “gói ghém” trong phạm vi dạy từ ở các bài tập đọc, hay dạy từ ngữ với tƣ cách là phƣơng tiện nghệ thuật của các tác giả nhƣ Hồ Lê (Một số suy nghĩ xung quanh việc dạy từ ngữ ở trƣờng phổ thông, 1974), Đinh Phan Cảnh (Một số kinh nghiệm bƣớc đầu về vấn đề dạy từ, 1974). Và đến năm 1980, khi phân môn Từ ngữ trong các nhà trƣờng đƣợc tách ra độc lập thì vấn đề dạy học từ ngữ mới thực sự đƣợc quan tâm. … Nội dung nghiên cứu của các tác giả đều xoay quanh ba vấn đề cơ bản trong dạy học từ ngữ là phát triển, mở rộng vốn từ; nắm nghĩa của từ và rèn luyện kỹ năng sử dụng từ. Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu đó chỉ tập trung vào việc dạy từ ngữ với tƣ cách là 6 ngôn ngữ mẹ đẻ chứ không phải là những vấn đề liên quan đến việc dạy tiếng Việt dành cho trẻ em dân tộc thiểu số.56] Nếu xem phát triển kinh tế là tạo tiền đề về mặt vật chất cho sự phát triển xã hội, thì phát triển ngôn ngữ cho trẻ lại là vấn đề nền tảng để nâng cao chất lƣợng giáo dục.
Việc nâng cao chất lƣợng giáo dục từ lâu đã trở thành mối quan tâm hàng đầu các trƣờng học nói riêng và toàn ngành giáo dục nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia. Tuy nhiên, để nâng cao chất lƣợng giáo dục, vai trò ngôn ngữ hết sức quan trọng. Việc tìm các giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ, trong đó chú trọng tăng cƣờng tiếng Việt tại các trƣờng học có học sinh dân tộc thiểu số luôn là mong muốn của nhà trƣờng và giáo viên ở vùng cao, vùng biên giới. Tiếng Việt rất quan trọng đối với mỗi ngƣời chúng ta, đặc biệt đối với trẻ là ngƣời dân tộc thiểu số.
Song trong thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trƣớc khi đến trƣờng chỉ sống trong gia đình, ở các thôn bản nhỏ, trong môi trƣờng tiếng mẹ đẻ. Do vậy trẻ chỉ nắm đƣợc tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ. Trẻ biết rất ít hoặc thậm trí không biết tiếng Việt. Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong các trƣờng học và cơ sở giáo dục khác.
Trên thực tế tiếng nói các dân tộc thiểu số hầu nhƣ chƣa có vai trò rõ rệt trong việc hỗ trợ tiếng Việt trong giáo dục. Cho đến nay nhìn chung việc dạy - học tiếng Việt cũng nhƣ việc dạy học bằng tiếng Việt ở các vùng dân tộc thiểu số chỉ đạt kết quả thấp ở các trƣờng mầm non. Chính vì vậy chất lƣợng chăm sóc, giáo dục trẻ không thể đạt đƣợc kết quả nhƣ mong muốn. Có thể thấy không nhƣ trẻ ngƣời Kinh, trƣớc khi đến trƣờng đa số trẻ ngƣời dân tộc thiểu số chƣa thể sử dụng đƣợc tiếng Việt.
Trẻ tới lớp, trƣờng mầm non đƣợc sự chăm sóc và đƣợc cung cấp vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt. Trẻ có thể sử dụng đƣợc những mẫu hội thoại đơn giản, những kỹ năng cơ bản nhƣ nghe, nói… nhƣng vì nhiều lý mà tiếng Việt vẫn còn xa cách với trẻ. Mỗi khi trẻ muốn trao đổi với mọi ngƣời xung quanh bằng tiếng Việt và tiếng Việt mới chỉ đƣợc sử dụng nhƣ ngôn ngữ thứ hai của trẻ. Tác giả Nguyễn Huy Cẩn (2001) với công trình “Từ hoạt động đến ngôn ngữ trẻ em vùng dân tộc thiểu số”, trên cơ sở quan sát hành vi lời nói của 100 trẻ theo chiều ngang và 2 trẻ theo chiều dọc (cũng là hai ngƣời con của tác giả, từ lúc mới sinh đến 3 tuổi) đã mô tả chi tiết, sinh động toàn bộ quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 0 - 3 tuổi, với một số kết luận quan trọng: (1) Về việc phát âm, mức độ tiếp nhận âm tố phụ thuộc vào mức độ tiếp nhận đối tƣợng; ban đầu, trẻ phát âm không đúng, sau đó, nó bắt chƣớc cách phát âm của những 7 ngƣời xung quanh để điều chỉnh lỗi phát âm mình cho phù hợp với các mẫu - hình ảnh âm tố đã đƣợc khái quát qua nhiều cảnh huống [10, tr.67]; (2) Về sự phát triển nghĩa của từ, trẻ tiếp thu ý nghĩa của từ mới trên cơ sở ý nghĩa của từ đã học nắm đƣợc trƣớc đó theo hai cách: kết hợp các từ mới với các từ đã biết hoặc kết hợp các từ đã biết để cấu tạo đƣợc một từ mới; trẻ học nắm ý nghĩa của từ trên cơ sở phân tích cảnh huống giao tiếp và khái quát hóa các phạm vi sử dụng của chúng [10, tr.93]; (3) Về sự phát triển cú pháp, khả năng cấu tạo từ và câu của trẻ chịu sự tác động của quá trình phân tích cảnh huống và quá trình tổng hợp hóa ngữ nghĩa của các phƣơng tiện ngôn ngữ (trật tự từ, hƣ từ và ngữ điệu); sự phát triển cú pháp của ngôn ngữ ở trẻ có thể diễn ra qua một số giai đoạn trung gian, có ảnh hƣởng ngƣợc trở lại sự phát triển vốn từ ở trẻ [10, tr.
Từ những thực tế về trẻ ngƣời dân tộc thiểu số tại các địa phƣơng ở nƣớc ta, hiện nay đã có các công trình nghiên cứu về công tác tăng cƣờng tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số nhƣng chƣa nhiều. Để nâng cao chất lƣợng hiệu quả ở các địa phƣơng miền núi, cần có sự đầu tƣ nhiều hơn trong nghiên cứu về tăng cƣờng tiếng Việt cho học sinh, đặt biệt là trẻ em tại các trƣờng mầm non. Các khái niệm chính 1. Quản lý Quản lý là hoạt động có chủ đích, đƣợc tiến hành bởi chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của tổ chức.
Trong mỗi chu trình quản lý chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý nhƣ xác định mục tiêu, các chủ trƣơng, chính sách, hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hoà, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản nhƣ tài lực vật lực, nhân lực v.v… để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định. Ngƣời đã đặt nền móng cho khoa học quản lý là F.W Taylor cho rằng: "Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất".Koontz khẳng định: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trƣờng mà trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Trong khái niệm trên cho rằng, quản lý là hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm phối hợp hành động của một nhóm ngƣời hay một cộng đồng ngƣời để đạt đƣợc các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.Mác coi việc xuất hiện quản lý nhƣ là kết quả tất nhiên của sự chuyển quá trình lao động cá biệt, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội đƣợc phối hợp lại.Mác đã viết: "Bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng đƣợc thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở chừng mực nhất định sự quản lý.
Ngƣời chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển, thì phải có nhạc trƣởng". Theo quan điểm trên cho thấy, để đạt hiệu quả cần phải có sự tổ chức , điều khiển của chủ thể quản lý, tác động đến khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý rất đa dạng và phong phú, nhƣng trong mối quan hệ đó thì cần quan tâm nhất là mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời và coi đó là cốt lõi của hoạt động quản lý.