Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, qui định, chuẩn mực nhằm định hướng con người tới các chân - thiện - mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái xấu. Đạo đức nảy sinh do nhu cầu đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định.
Từ xa xưa, đạo đức và GDĐĐ cho con người nói chung và cho học sinh nói riêng đã trở thành vấn đề được quan tâm và đánh giá cao. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử xã hội loài người. Những tư tưởng đạo đức, giá trị đạo đức, đạo đức học đã hình thành hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học phương Đông: Trung Quốc, Ấn Độ… và triết học phương Tây: Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại… Nó được hoàn thiện và phát triển trên cơ sở các chế độ kinh tế-xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, mà hiện nay chúng ta đang phấn đấu để đạt tới một nền đạo đức văn minh và tiến bộ hơn. Ở phương Tây, thời Hy lạp cổ đại, nhà triết học Socrate(469 – 399 TCN) cho rằng; cái gốc của đạo đức là tính thiện, bản thân con người vốn thiện.
Nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ hạnh phúc. Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, theo ông phải nhận thức bằng lý tính với phương pháp nhận thức khoa học. Ở phương Đông cổ đại, Khổng Tử (551 – 479 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc đã xây dựng học thuyết “Nhân – Lễ - Chính danh”, trong đó Nhân (lòng thương người) là yếu tố hạt nhân, là đặc điểm cơ bản nhất của con người. Đứng trên lập trường coi trọng đạo đức, ông có câu nói nổi tiếng truyền lại đến ngày nay: “Tiên học lễ, hậu học văn”.
Các tôn giáo lớn trên thế giới: Phật giáo, Ki tô giáo, Islam giáo … đều đặt ra vấn đề đạo đức trong giáo lý và giáo luật như một giải pháp tất yếu để giải thoát con người khỏi khổ đau và đạt đến bến bờ hạnh phúc. Thế kỷ XVII, Komenxky – nhà giáo dục nổi tiếng Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho hoạt động GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại. Komenxky đã chú trọng đến môi trường bên trong và bên ngoài để GDĐĐ học sinh. Thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu về GDĐĐ học sinh như: A.A Xukhomlinxky…Nghiên cứu của họ đã đặt nền tảng cho việc GDĐĐ mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên Xô trước đây.
Hiện tại ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức như: Phạm Khắc Chương với đóng góp về một số vấn đề giáo dục đạo đức 5 ở trường phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội (1995); Đặng Quốc Bảo với: một số khái niệm về quản lý giáo dục, Hà Nội (1999); Bùi Việt Phú với: Một số góc nhìn về phát triển và quản lý giáo dục (2013); Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH (Phạm Minh Hạc, 2001); Giáo trình đạo đức học Mác - Lênin của Vũ Trọng Dung (chủ biên) Nhà xuất bản chính trị quốc gia, tái bản năm 2006; Giáo dục đạo đức trong nhà trường của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt 1988; Giáo trình đạo đức học của Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng, Nhà xuất bản giáo dục 2001; Quản lý trường học của Vũ Khiêu (chủ biên), 1974; Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục của Đặng Quốc Bảo, (1998); Khoa học quản lý nhà trường phổ thông, Nhà xuất bản , Quốc gia Hà Nội của Trần Kiểm, 2002. Như vậy, có thể thấy, mặc dù có những quan điểm chưa thống nhất nhưng phần lớn các tác giả đều khẳng định: Đa số học sinh, sinh viên có phẩm chất đạo đức và lối sống tốt, ham hiểu biết, ham học hỏi, tôn trọng đạo lý, vẫn giữ gìn được bản sắc và truyền thống văn hoá của dân tộc, mặc dù nhận thức và hành động của một bộ phận học sinh chưa đạt những chuẩn mực đạo đức hiện nay. Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận thanh niên, học sinh sa sút về phẩm chất đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, coi thường luân thường đạo lý, phai nhạt lý tưởng XHCN, vi phạm pháp luật và sa vào các tệ nạn xã hội, có các hành vi lệch so với chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hoá của dân tộc. Các nghiên cứu ở trong nước Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người.
Việc giáo dục đạo đức luôn là vấn đề đặt ra từ xưa đến nay và thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã đưa ra các mô hình quản lý giáo dục đạo đức phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn phát triển của đất nước. Theo quyết định số 325/GD-TT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Thể thao về việc ban hành chương trình giáo dục đạo đức và việc thực hiện dạy - học trong trường phổ thông. Ban hành kèm Quyết định 1816/ GD-TT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Thể thao về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định nêu trên[33].
Theo Luật giáo dục (Điều 16, bản sửa đổi 2015) hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với hoạt động giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục tiêu GDĐĐ nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; đã mang lại nhiều nội dung mới về GDĐĐ, chính trị tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học Thực tiễn công tác GDĐĐ hiện nay phát triển còn chậm và chưa đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới. Kết quả và chất lượng dạy học nghề trung học phổ thông hàng năm chưa phản ánh đúng trình độ học lực của học sinh vì việc đánh giá chỉ mới dựa trên tỷ lệ khá giỏi của kỳ thi nghề, chưa đánh giá đầy đủ các mặt như: phẩm chất xã hội - nghề nghiệp của học sinh, khả năng thích ứng thị trường lao động, các chỉ số về sức khỏe tâm lý. 6 Luật giáo dục 2015 (bản sửa đổi), ở Điều 13 có nêu “Mục tiêu GD phổ thông là chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”, “GD THPT nhằm đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức,tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp giúp cho học sinh có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật , đạo đức lối sống, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học lên, trung cấp, cao đẳng, đại học, học nghề hoặc đi vào lao động cuộc sống”[34]. Hiện nay tình trạng sút kém chất lượng đạo đức của HS nói chung và HS THPT nói riêng đang có những diễn biến phức tạp, công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS đang đứng trước những thách thức mới cần phải được giải quyết và phải tính đến đặc điểm kinh tế, xã hội cụ thể của từng vùng, miền, địa phương cụ thể.
Trong khi đó, trong giai đoạn hiện nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường THPT trên địa bàn huyện Khongxedon, tỉnh Salavăn. Vì vậy, tác giả chọn đề tài:" Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường Trung học Phổ thông huyện Khongxedon, tỉnh Salavăn nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào " với tâm nguyện góp một phần nhỏ bé vào việc đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS, nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS các trường THPT huyện Khongxedon, tỉnh Salavăn trong bối cảnh mới hiện nay. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý giáo dục a.
Quản lý Quản lý là một khái niệm rộng lớn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, khi đưa ra khái niệm về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu hay thực tế công việc quản lý của mình. Cụ thể: Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [29]. Frederick Winslow Taylor (1856-1915) “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [8].
Theo Henry Fayon cho rằng: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát” Harol Koontz định nghĩa: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” [12].Robins, Wayned Morryn: “Quản lý là một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học” [28].Follet lại cho rằng, quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của mình được thực hiện thông qua người khác. 7 Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng có những quan niệm khác nhau về quản lý: Theo Lê Quang Sơn: “Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi” [26]. Theo Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc và thì Quản lý là “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[6].
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”[21]. Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đã dự kiến” [22].