Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lí giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật theo hướng phối hợp với gia đình ở các trường Tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lí giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật theo hướng phối hợp với gia đình ở các trường Tiểu học huyện Đông Anh, 5 thành phố Hà Nội. Chương 3: Biện pháp quản lí giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật theo hướng phối hợp với gia đình ở các trường Tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT THEO HƯỚNG PHỐI HỢP VỚI GIA ĐÌNH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về giáo dục hoà nhập cho học sinh khuyết tật Luận án tiến sĩ của Đinh Nguyễn Trang Thu với đề tài “Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh khuyết tật trí tuệ học hòa nhập ở tiểu học”, tác giả đã tiến hành các nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lí luận về HS khuyết tật trí tuệ, kỹ năng giao tiếp và giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS khuyết tật trí tuệ học hòa nhập ở tiểu học; Khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS khuyết tật trí tuệ học hòa nhập ở tiểu học; Đề xuất và thực nghiệm sư phạm các biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS khuyết tật trí tuệ học hòa nhập ở tiểu học. Nghiên cứu của tác giả đã khẳng định kỹ năng giao tiếp là kỹ năng cần thiết hỗ trợ HS khuyết tật trí tuệ tham gia vào các hoạt động học tập và hòa nhập trong môi trường giáo dục hòa nhập. Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho HS khuyết tật trí tuệ học hòa nhập ở tiểu học đáp ứng đúng xu hướng đổi mới giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực của người học, giáo dục hướng tới cá nhân, dựa trên đặc điểm phát triển của người học, nhằm mục tiêu vì sự tiến bộ và phát triển của người học [31].
Tài liệu tập huấn hỗ trợ trẻ khuyết tật học hòa nhập tại trường học đã đề cập đến những nội dung chính: Mục tiêu của giáo dục hoà nhập, quyền lợi và trách nhiệm của các bên liên quan trong giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, Một số nguyên tắc cơ bản về dạy giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật, kế hoạch giáo dục cá nhân trẻ khuyết tật trong đó nhấn mạnh đến quy trình xây dựng và thực hiện bản kế hoạch giáo dục cá nhân trẻ khuyết tật. Tài liệu này đã khẳng định giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật nhằm tạo ra được môi trường sống, học tập hòa nhập tốt nhất cho trẻ khuyết tật, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ khuyết tật được tham gia học cùng trẻ không khuyết tật ngay trong các trường học. 7 Giáo dục hòa nhập là cơ hội để trẻ không khuyết tật và trẻ khuyết tật hiểu đúng giá trị của nhau, xóa bỏ sự cách biệt mặc cảm, xa lánh để trẻ có trách nhiệm với nhau hơn. Giúp trẻ khuyết tật được học tại nơi trẻ sinh sống cùng gia đình, không có sự tách biệt môi trường sống vì trường hòa nhập có trách nhiệm tiếp nhận toàn bộ trẻ em của địa phương không kể trẻ khuyết tật hay trẻ không khuyết tật vào học đây cũng là cơ hội giúp trẻ khuyết tật học được nhiều hơn ở bạn, ở giáo viên và nhà trường [28].
Trong bài viết Thực trạng của quản lí hoạt động GDHN cho trẻ khuyết tật ở các trường tiểu học quận 7, TP. Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thụy Tố Uyên đã tiến hành khảo sát việc thực hiện việc giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại các trường: Kim Đồng, Phù Đổng, Phú Mỹ, Nguyễn Thị Định, Tân Thuận, Việt Úc, Sao Việt cho thấy bên cạnh những hoạt động đã thực hiện tương đối tốt, vẫn còn tồn tại một số nội dung quản lí hoạt động GDHN cho trẻ khuyết tật của hiệu trưởng các trường tiểu học quận 7, TP. Hồ Chí Minh thực hiện chưa tốt, đó là: Lập kế hoạch tìm hiểu khả năng và nhu cầu của trẻ khuyết tật học hòa nhập; xác định khả năng và nhu cầu của trẻ khuyết tật học hòa nhập; chỉ đạo, chỉ dẫn, tập huấn để thực hiện tốt công tác giáo dục; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các nội dung giáo dục cho trẻ khuyết tật. Do đó, trong thời gian tới, hiệu trưởng các trường này cần tập trung thực hiện tốt các biện pháp quản lí sau: 1) Tăng cường việc lập kế hoạch hoạt động GDHN cho trẻ khuyết tật, chú ý quán triệt mục tiêu hoạt động GDHN và mục tiêu quản lí hoạt động GDHN cho trẻ khuyết tật; 2) Thực hiện tốt việc phân công nhiệm vụ, mối quan hệ giữa các thành viên trong thực hiện các nội dung GDHN cho trẻ khuyết tật; 3) Tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ về GDHN cho giáo viên để thực hiện tốt việc chỉ đạo thực hiện các nội dung GDHN; 4) Thường xuyên kiểm tra, đánh giá thực hiện hoạt động GDHN cho trẻ khuyết tật, chú ý đến việc điều chỉnh kế hoạch sau khi kiểm tra; 5) Tạo ra môi trường, điều kiện học tập và phát triển tốt nhất cho trẻ khuyết tật [33].
8 Trong đề tài “Quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ tăng động trong trường mầm non hòa nhập” của tác giả Phạm Thị Thơm đã đề cập đến nội dung quản lý giáo dục hòa nhập trong trường mầm non như: Lập kế hoạch; Quản lý xây dựng mục tiêu, nội dung và điều chỉnh chương trình giáo dục hòa nhập cho trẻ tăng động; Tổ chức các hoạt động dạy học cho trẻ tăng động trong trường mầm non. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, tác giả đã đưa ra các biện pháp và tổ chức thực nghiệm các biện pháp tại trường mầm non hòa nhập [32]. Trần Thị Bích Ngọc với công trình “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy hòa nhập cho học sinh khuyết tật tại các trường phổ thông”. Tác giả đã đề cập đến vấn đề các nhà quản lí giáo dục và đội ngũ giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục hoà nhập, giúp học sinh khuyết tật hòa nhập vào các hoạt động học tập với các em học sinh trung bình.
Gần đây, giáo dục hòa nhập đã được chú ý nhiều nhưng cán bộ quản lí và giảng dạy không đáp ứng được yêu cầu của xã hội và yêu cầu cải cách giáo dục [23]. Trong bài viết “Thực trạng quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại các trường mầm non quận 3, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Thị Mỹ Dung đã đánh giá thực trạng Hiệu trưởng quản lý giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại các trường mầm non quận 3, thành phố Hồ Chí Minh như thực trạng lập kế hoạch, tổ chức hoạt động, chỉ đạo hoạt động, kiểm tra và đánh giá hoạt động, từ đó nhận thấy một số hạn chế: Việc lập kế hoạch chung trẻ khuyết tật với trẻ bình thường, chưa phân công công tác dạy riêng từng trẻ khuyết tật, chưa tiến hành kiểm tra phân công công tác dạy riêng từng trẻ khuyết tật…[11]. Nhìn chung các tác giả nêu trên đã nghiên cứu và đề cập đến việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy hòa nhập; sự phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội cho đến cơ sở lý luận quản lý 9 giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật. Các nghiên cứu về quản lý giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật theo hướng phối hợp với gia đình ở các trường tiểu học Từ trước năm 1990, việc giáo dục học sinh khuyết tật chủ yếu là nuôi dưỡng, chăm sóc và học tập trong các trường lớp chuyên biệt.
Có một số lượng nhất định học sinh khuyết tật tham gia học tập trong các trường phổ thông nhưng đều do nỗ lực của cá nhân và gia đình mà chưa có được sự trợ giúp từ hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục khuyết tật ở nước ta có 3 phương thức: giáo dục hoà nhập, giáo dục bán hoà nhập và giáo dục chuyên biệt. Riêng giáo dục hòa nhập được thực hiện với tất cả trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Việt Nam hiện có 14 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập, 97 trường chuyên biệt dành cho học sinh khuyết tật và học hòa nhập ở tất cả các cơ sở giáo dục.
Số trẻ đến học tại các cơ sở hòa nhập ngày càng tăng, đặc biệt ở bậc tiểu học và Mầm non, một số lượng đáng kể tiếp tục học lên THCS và THPT. Đến nay, có trên 70% trẻ KT có khả năng học tập được tiếp cận giáo dục. Hiện đã có 2 trường đại học sư phạm, 3 trường cao đẳng sư phạm có khoa giáo dục đặc biệt. Mục tiêu đến năm 2025 có ít nhất 80% người khuyết tật trong độ tuổi mầm non và phổ thông được tiếp cận giáo dục hòa nhập chất lượng, bình đẳng và thân thiện.
Có ít nhất 50% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên hỗ trợ giáo dục người khuyết tật được tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về giáo dục người khuyết tật. Dương Phương Hạnh và Phan Thị Ngọc Sinh với công trình “Phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội trong giáo dục hòa nhập trẻ khiếm thính”. Hai tác giả cũng đã đề cập đến về vai trò và thực trạng phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội đối với giáo dục trẻ khuyết tật. Đồng thời đề xuất một số biện pháp phối hợp giáo dục giữa gia đình – nhà trường – xã hội nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khiếm thính với mục đích cuối cùng là để các em có thể tham gia và hòa nhập 10 trọn vẹn, hữu hiệu vào xã hội [16].
Nguyễn Đức Hữu với công trình “Cơ sở lý luận của quản lý giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật ở Việt Nam”. Tác giả đã hệ thống cơ sở lí luận của quản lí giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật ở Việt Nam tiếp cận dựa trên các Quyền trẻ em; dựa trên lợi ích tốt nhất của người khuyết tật và theo các học thuyết quản lí, quản lí giáo dục. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các giải pháp, kiến nghị để giải quyết tốt hơn nữa quyền được giáo dục của người khuyết tật [20]. Tác giả Phùng Minh Ngọc (2015), Quản lý công tác giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật tại các trường Tiểu học quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.