Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÒNG NGỪA BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân 1.1 Trường trung học phổ thông Điều lệ trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT ngày 15/9/2020 có hiệu lực từ ngày 01/11/2020 (thay thế Thông tư 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/11/2011) của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định: Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và có con dấu riêng [4]. Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai.
Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm [20]. Mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông: - Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Giáo dục trung học phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân; bảo đảm cho học sinh củng cố, phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [20].
Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học phổ thông - Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển nhà trường gắn với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; xác định tầm nhìn, sứ mệnh, các giá trị cốt lõi về giáo dục, văn hóa, lịch sử và truyền thống của nhà trường. - Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường theo chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong tổ chức các hoạt động giáo dục. 12 Luan van - Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công. - Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia các hoạt động xã hội. - Quản lý giáo viên, nhân viên, học sinh theo đúng quy định của pháp luật. - Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục theo quy định của pháp luật.
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của pháp luật. - Thực hiện các hoạt động về bảo đảm chất lượng giáo dục, đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. - Thực hiện công khai về cam kết chất lượng giáo dục, các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục và thu, chi tài chính theo quy định của pháp luật. - Thực hiện dân chủ, trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục trong quản lý các hoạt động giáo dục; bảo đảm việc tham gia của học sinh, gia đình và xã hội trong quản lý các hoạt động giáo dục theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [4]. Lý luận giáo dục phòng ngừa bạo lực học đường cho học sinh các trường trung học phổ thông 1. Khái niệm bạo lực và bạo lực học đường 1. Bạo lực Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: Bạo lực là sức mạnh dùng để chỉ sự cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ [28].
Theo tổ chức Y tế thế giới (2002): Bạo lực là sự đe dọa sử dụng hoặc sử dụng sức mạnh thể chất, quyền lực đối với một người khác/một nhóm người/một cộng đồng, gây ra/làm tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển, gây ra sự mất mát. Theo khái niệm này: (1) Bạo lực là hành động có mục đích làm hại một hoặc nhiều đối tượng cụ thể mà nó hướng tới; (2) Bạo lực là hành động của người có sức mạnh thể chất hoặc/ và quyền lực; (3) Đối tượng hướng tới của bạo lực có thể là một cá nhân, một nhóm người hoặc một cộng đồng dân cư; (4); Mức độ làm hại của hành vi bạo lực rất khác nhau: có thể chỉ đe dọa gây cho đối phương lo lắng, sợ hãi, căng thẳng để đạt mục đích của mình; có thể ở mức độ cao hơn: gây ra tổn thương hoặc làm tăng khả năng tổn 13 Luan van thương, tử vong, gây ra mất mát về vật chất, người thân, các yếu tố tinh thần khác để quy phục đối phương, để đạt được mục đích của mình [11]. Theo Nguyễn Phương Linh: “Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với nhóm người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát cho những người bị hại” [14]. Bạo lực học đường Theo Điều 2, Nghị định số 80/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường: Bạo lực học đường là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của người học xảy ra trong cơ sở giáo dục hoặc lớp độc lập [6].
Theo Phan Thị Mai Hương: Bạo lực học đường là thuật ngữ dùng để chỉ những hành vi bạo lực trong môi trường học đường hoặc những hành vi bạo lực của lứa tuổi học đường, bao gồm hàng loạt các hành vi bạo lực với các mức độ khác nhau, từ không lời đến có lời, từ hành động đơn giản đến những hành động thù địch, gây hấn, phá phách, gây tổn thương tâm lý, thậm chí tổn hại đến thể chất của người khác [12]. Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn: Bạo lực học đường là một thuật ngữ dùng để chỉ các hành động làm tổn hại đến thể chất, tinh thần và vật chất của người khác dưới những hình thức khác nhau diễn ra trong môi trường học đường [23]. Còn theo Nguyễn Văn Lượt: Hành vi bạo lực học đường được coi là những hành vi lệch chuẩn bởi nó vi phạm các quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, nội quy của nhà trường nơi mà các em là thành viên [15]. Tóm lại, các quan điểm nêu trên đã chỉ ra điểm chung cơ bản trong khái niệm bạo lực học đường.
Bạo lực học đường là những hành vi làm tổn thương người khác cả về thể chất lẫn tinh thần dưới nhiều hình thức khác nhau diễn ra trong các cơ sở giáo dục. Từ phân tích trên, nghiên cứu xây dựng khái niệm chính coi: Bạo lực học đường là những hành vi dùng sức mạnh thể chất, ngôn ngữ trực tiếp hoặc gián tiếp để làm tổn hại đến thể chất, tinh thần, vật chất cho người khác ở những mức độ khác nhau diễn ra trong môi trường học đường. Bạo lực học đường thường được thể hiện ở 3 hình thức là bạo lực về vật chất, bạo lực về thể chất và bạo lực về tâm lý, tình cảm (tinh thần) 14 Luan van - Bạo lực về vật chất + Bạo lực về vật chất là những hành động gây thiệt hại về đồ dùng, trang phục, phương tiện đi lại, tiền của cho học sinh, ví dụ như hiện tượng “bảo kê” “trấn lột”, kẻ mạnh trấn lột tiền hay tài sản có giá trị của kẻ yếu, chiếm đoạt các vật dụng của bạn bè, yêu cầu hăm dọa học sinh khác phải nộp tiền hay tài sản có giá trị cho kẻ mạnh, cố ý hủy hoại hay làm hư hỏng các vật dụng của người khác. Ngoài ra, để khỏi bị bắt nạt từ những nhóm khác một số em phải chung tiền để được các “đại ca” bảo kê che chở.
+ Bạo lực về vật chất thực ra có liên quan đến bạo lực về thể chất hay bạo lực về tình cảm – tâm lý. Thế nhưng xét ở một gốc độ nhất định, những biểu hiện của hành vi bạo lực này thường hướng đến sự bắt ép có liên quan đến vật chất hay những phương tiện vật chất có liên quan. Trong môi trường học đường, bạo lực vật chất này được xem là một đặt thù có liên quan chặt chẽ đến hành vi bắt nạt học đường hay bạo lực học đường vì đôi lúc nó diễn ra một cách “tự nhiên”. Nhưng ngày nay, hành vi này cũng có những biểu hiện diễn ra một cách có chủ đích, cụ thể, có tính toán hay thậm chí là có “tổ chức” nhóm.
- Bạo lực về thể chất Bạo lực về thể chất là một hiện tượng rất nghiêm trọng, nó không chỉ ảnh hưởng đến người bị bạo lực mà còn ảnh hưởng đến người bị chứng kiến cảnh bạo lực. Bạo lực về thể chất xảy ra khi một người bị người khác sử dụng công khai những hành động cơ thể để áp đặt sức mạnh của họ lên người kia. Bạo lực thể chất bao gồm các hành vi như đá, đấm đánh, nhéo hoặc các hành động tấn công về mặt thể chất khác. Các hình thức bạo lực về thể chất như: Giật cặp, lục cặp, giật và giấu đồ dùng học tập, giật mũ, giật áo, giày dép, phá hoại đồ dùng học tập…Ngoài ra, còn có các hình thức tác động vào thân thể chưa gây thương tích như: gõ lên đầu lên vai, đập vào người, xô đẩy, dùng các đồ dùng học tập, đất cát, sậu bọ ném vào người, kéo tóc, cắt tóc, đổ nước lên đầu, gạt chân…Bên cạnh đó, còn có hành động gây thương tích: cào, cấu, đánh, tát vào mặt, ném gạch hoặc đất vào người, có ý dùng vũ khí để gây thương tích cho người khác… Những hành động bắt nạt này xảy ra thường xuyên nhất là ở trường hoặc có thể trên đường đến trường, sau giờ tan học.