Phần mở đầu - Phần nội dung: Gồm 3 chƣơng, cụ thể: + Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu + Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu + Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu - Phần kết luận và kiến nghị Ngoài ba phần trên, luận văn còn có thêm mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo. 4 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BẠO LỰC VÀ BẠO LỰC HỌC ĐƢỜNG 1. Tổng quan một số công trình nghiên cứu lý luận về bạo lực và bạo lực học đƣờng 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài 1.
Hướng giải thích nguồn gốc tâm lí của bạo lực Bạo lực làm tổn hại về thể chất có nguồn gốc bản năng, tự vệ. Con ngƣời giống nhƣ con vật ngƣời ta có thể làm tổn thƣơng nhau vì một miếng ăn, nếu trong hai ngƣời không lao vào đánh nhau vì một miếng ăn thì mỗi ngƣời trong số họ có nguy cơ bị chết đói. Vì thế mà hành vi bạo lực này đƣợc thực hiện để đảm bảo khả năng sinh tồn của con ngƣời. Bạo lực làm tổn hại về thể chất có nguồn gốc từ sự giận dữ và thất vọng: Theo thuyết tâm động lực cho rằng cảm xúc giận dữ, thất vọng sẽ thúc đẩy con ngƣời tới phản ứng bạo lực.
Thất vọng càng in sâu, mức độ ảnh hƣởng đến xu hƣớng bạo lực càng lớn. Thuyết bạo lực do thất vọng đã giải thích hiện tƣợng gây hấn theo các sự kiện bất thƣờng của hoàn cảnh tác động tới tâm lí con ngƣời. Khi mới xuất hiện thuyết này khẳng định sự thất vọng luôn đƣa đến một loại gây hấn nào đó. Ngƣợc lại sự gây hấn luôn là kết quả của một số thất vọng.
Trong quá trình phát triển, thuyết này đã bổ sung nhiều luận điểm so với lúc ban đầu. Bạo lực có thực sự diễn ra hay không tùy thuộc vào sự có mặt các kích thích. Các tác nhân kích thích rất phong phú. Có thể từ các yếu tố trực tiếp và công khai cho đến những cái khó thấy hơn nhƣ sự liên kết các sự kiện bạo lực mà cá nhân đã trải qua, hay đơn giản là sự xuất hiện các kích thích liên quan.
Tất cả các tác nhân kích thích này sẽ dẫn tới hành vi gây hấn [dẫn theo 5]. Luận điểm “thất vọng gây giận dữ” của thuyết tâm động học là tiêu chí quan trọng để đo lƣờng hành vi bạo lực của học sinh có nguồn gốc từ sự thất vọng tức giận. Có thể thấy rằng hành vi bạo lực do yếu tố bên ngoài tác động khiến chủ thể có hành vi bạo lực. Trạng thái thất vọng, tức giận làm cho ngƣời hiền 5 z lành cũng sẵn sàng nổi khùng và thực hiện hành vi bạo lực để giải tỏa cảm xúc.
Họ có thể giải tỏa bằng cách trút giận lên ngƣời khác. Chẳng hạn một học sinh vi phạm nội quy lớp học bị cô giáo trách phạt, lúc về em học sinh này đánh bạn lớp trƣởng vì cho rằng bạn lớp trƣởng cùng phe với cô giáo làm mình bị phạt nhƣ vậy. Nhƣ vậy, bạo lực làm tổn hại về thể chất có nguồn gốc từ quan sát và học hỏi: Thuyết học tập xã hội cho thấy một trong những nguồn gốc lớn nhất của hành vi bạo lực là do con ngƣời học đƣợc từ môi trƣờng sống (văn hóa giáo dục gia đình, bạn bè, hàng xóm, phƣơng tiện truyền thông…). Hành vi bạo lực là hành vi không phải có sẵn mà là hành vi mang tính chất bản năng hành vi học đƣợc từ môi trƣờng.
Chẳng hạn, các em chơi các game bạo lực hay xem phim bạo lực khi các em ra ngoài đời sống thực khi gây gổ bạo lực với bạn thì các em cũng sẽ có hành động giống nhƣ trong phim, trong game… hay có trƣờng hợp một học sinh nghiện game về xin tiền bố chơi game bố không cho em ý đã giết chết bố mình và chặt xác bố vứt xuống sông. Những em học sinh lớn lên trong một gia đình luôn có bạo lực thì khi ra ngoài xã hội các em cũng sẽ sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề nhƣ các em học đƣợc từ cha mẹ mình. Bạo lực làm tổn thƣơng về mặt tinh thần thƣờng mang tính cố ý cao, nhƣng cá nhân ý thức về hành vi này thƣờng kém. Sự tổn thƣơng tinh thần là điều không dễ nhìn thấy song hậu quả để lại rất sâu sắc với nạn nhân.
Thông thƣờng việc “ngồi lê đôi mách” hay “nói xấu sau lưng” là kiểu hành vi bạo lực mang tính tinh thần đặc trƣng, chúng là những hành vi bạo lực không đối đầu trực tiếp của các chủ thể bạo lực. Tính chất bạo lực thể hiện ở rõ ở sự cố ý làm tổn thƣơng về hành vi làm mất uy tín danh dự của ngƣời khác. Hành vi đó còn thể hiện ở sự cố ý làm hoặc không làm điều gì đó với mục đích làm cho ngƣời kia phải cảm thấy đau khổ hay thất vọng đặc biệt khi ngƣời thực hiện hành vi bạo lực càng có ý nghĩa quan trọng đối với nạn nhân thì sự ảnh hƣởng của hành vi bạo lực đối vói nạn nhân càng lớn. Nhìn chung, 6 z các em học sinh chỉ cho rằng những hành vi đấm đá, đánh nhau mới là bạo lực còn hành vi nói xấu làm mất danh dự của bạn thì không phải là bạo lực.
Đó cũng là một trong những hạn chế trong sự hiểu biết của các em [5]. Khi bị các con khác tấn công đe dọa sự tồn tại của mình lúc này tính dã thú trong con vật tăng lên. Ở con ngƣời cũng vậy hành vi bạo lực chống lại kẻ thù lớn hơn sẽ dẫn đến sự sinh tồn hoặc diệt vong. Thực hiện hành vi bạo lực, chủ thể thƣờng có tâm thế cố ý, sẵn sàng làm tổn thƣơng ngƣời khác và cảm thấy hả hê về những hành động mình gây ra.
Thông thƣờng thì chúng ta thấy một số hành vi tuy đem lại sự tổn hại nhƣng không bị coi là bạo lực. Các hiện tƣợng tự nhiên nhƣ sóng thần, sạt lở đất, khi tham gia giao thông vô tình va quệt vào nhau, một ngƣời vô ý làm rơi đồ vật làm đau ngƣời khác… đều không phải là hành vi bạo lực. Học sinh có nhận thức đúng về gây hấn tinh thần thấp hơn với nhận thức về bạo lực thể chất. Học sinh có nhận thức tốt hơn đối với những hành vi không phải bạo lực vốn bắt nguồn từ hiện tƣợng tự nhiên.
Còn có một số học sinh còn nhầm lẫn khi chỉ coi những hành vi bạo lực về thể chất, hành vi có tổn hại cho con ngƣời mới là hành vi bạo lực. Còn những hành vi hành hạ vật nuôi, hủy hoại bản thân (nhƣ lấy dao tự rạch vào ngƣời mình…) thì không coi là hành vi bạo lực. Điều đó cho thấy nhận thức của học sinh về những hành vi đƣợc coi là bạo lực là còn rất kém. Hướng nghiên cứu về tình trạng bạo lực học đường Ở nhiều quốc gia trên thế giới, tình trạng bạo lực học đƣờng đã và đang diễn ra với nhiều hình thức và mức độ nghiêm trọng gây ảnh hƣởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần của học sinh.
Điều này đƣợc thể hiện nghiên cứu thống kế điều tra của Hội Nghiên cứu Harvest (năm 2006) tại Singapore có tới 2800 trên tổng số 4000 em học sinh trả lời mình bị bạo lực trƣờng học. Điều tra của Hiệp hội Y tế cho biết có đến 10% trẻ em bị bạo lực trƣờng học tại Mỹ. Có khoảng 30% lứa tuổi teen (5.7 triệu) chịu ảnh hƣởng của bạo lực học đƣờng. Có thể các em bị xúc phạm về thân thể, bị tổn thƣơng do những ngôn từ nặng nề, bị ám ảnh bởi thái độ lạnh lùng, thờ ơ.
7 z Những vấn đề này đã và đang gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh chúng ta [dẫn theo 8]. Nhà tâm lý học Na Uy Dan Olweus đã đƣa ra chƣơng trình chống bắt nạt trong trƣờng học. Đƣợc áp dụng từ năm 1983, nó tỏ ra hữu hiệu đến mức đƣợc nhiều nƣớc phát triển áp dụng. Số liệu thống kê cho hay, nhờ chƣơng trình này, số lƣợng nạn nhân và số lƣợng “kẻ ăn hiếp” giảm từ 30 – 50%.
Đồng thời, cũng nhờ nó mà tỷ lệ phạm tội trộm cắp, ăn cƣớp, cƣỡng hiếp trong trẻ vị thành niên thuyên giảm đáng kể. Ở Canada, hệ thống chẩn đoán tâm lý của học sinh đã đƣợc thiết lập trong trƣờng học. Việc này đang đƣợc tiến hành ngày một kỹ càng hơn vì kết quả xét nghiệm độ hung hãn của từng học sinh giúp cho công tác chống bắt nạt trong trƣờng sở ngày một hữu hiệu. Ở châu Âu đã thành lập ban quan sát toàn châu lục về bạo lực trong nhà trƣờng.
Các quốc gia đã triển khai dự án “Hiến chương châu Âu vì trường học dân chủ không bạo lực”. Theo đó, nhiều trò chơi trên máy tính đã thiết kế nhằm rèn cho học sinh kỹ năng chống bắt nạt trong nhà trƣờng, trên đƣờng phố, khuyến khích các em tham gia những trò chơi tập thể trên lớp, dựng những vở kịch, viết văn, làm thơ, tham gia thảo luận về đề tài chống bắt nạt, hoá giải hành động, thái độ hung hãn. Nhà trƣờng cũng đã xây dựng những quy tắc hành vi cho những em thƣờng rơi cào tình thế bị bắt nạt, và những em có xu hƣớng dùng bạo lực giải quyết tranh chấp, những em có tình thích trêu chọc bạn bè quá mức. Nét chung của các chƣơng trình chống bắt nạt quốc tế là sự tỉ mỉ, chu đáo, có hệ thống, và tôn trọng nhân cách của học sinh và phụ huynh [dẫn theo 1].
Theo một cuộc điều tra của nhà xã hội học ngƣời Pháp Cécile Carra công bố năm 2009 (thực hiện trên 2000 học sinh từ 7-12 tuổi tại 31 trƣờng học), có hơn 40% học sinh khẳng định từng là nạn nhân của bạo lực học đƣờng ít nhất một lần trong năm và 28% học sinh thừa nhận từng là “hung thủ” trong các vụ bạo lực học đƣờng. Vấn đề bạo lực học đƣờng gây lo ngại 8 z tới mức Bộ Giáo dục Pháp phải tổ chức một hội nghị kéo dài 2 ngày (7 - 8/4) tại Paris để bàn riêng về chủ đề này [31]. Năm 2006, sau một vụ tự sát của một cô gái sau khi bị quấy nhiễu tình dục tại trƣờng, Bộ trƣởng Bộ Giáo dục Ba Lan, Roman Giertych, đã đƣa ra một cuộc cải cách trƣờng học "không khoan dung". Theo kế hoạch này, các giáo viên sẽ có vị thế pháp lý nhƣ các nhân viên dân sự, khiến việc thực hiện hành động bạo lực chống lại họ bị trừng phạt với những mức độ cao hơn.