Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Lịch sử giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới quan, giáo dục truyền thống văn hóa, lòng yêu nước và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh theo tinh thần Nghị quyết Trung ương II. Tuy nhiên, do đặc trưng của khoa học lịch sử là quá khứ đã diễn ra không thể trực tiếp tri giác lại hay tái hiện trong phòng thí nghiệm, học sinh tiểu học thường gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Trên thực tế, học sinh bước vào lớp 4 mới bắt đầu tiếp cận phân môn Lịch sử (thuộc môn Lịch sử và Địa lí) nên lượng kiến thức còn khá trừu tượng, xa lạ; nhiều học sinh nắm kiến thức về địa danh, nhân vật, không gian lịch sử còn mơ hồ hoặc nhầm lẫn giữa các giai đoạn. Trong khi đó, phần lớn giáo viên vẫn nặng về phương pháp thuyết trình, giảng giải một chiều, chưa khai thác triệt để hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa hoặc chỉ xem kênh hình là phương tiện minh họa phụ trợ, chưa biến kênh hình thành nguồn cung cấp tri thức để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Đậu Thị Ngọc Bích đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Giáo dục Tiểu học tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (năm 2018), dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Thị Kim Cúc, với đề tài: "Phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua việc khai thác kênh hình trong dạy học môn Lịch sử lớp 4".

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở tìm hiểu lí luận và thực tiễn việc khai thác kênh hình trong dạy học môn Lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, đề xuất những biện pháp khai thác kênh hình nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch sử ở bậc tiểu học.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc khai thác kênh hình.
  2. Tìm hiểu thực trạng khai thác kênh hình trong học tập và giảng dạy môn Lịch sử ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
  3. Đề xuất các biện pháp nhằm phát triển kĩ năng khai thác kênh hình trong học tập và giảng dạy môn Lịch sử nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh tiểu học.
  4. Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy – học Lịch sử ở trường tiểu học.
  • Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp khai thác kênh hình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học Lịch sử lớp 4.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát và nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trên 20 giáo viên và 120 học sinh lớp 4 tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về mặt lý luận, đề tài dựa trên quan điểm về phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh (được GS.TSKH Thái Duy Tiên định nghĩa là trạng thái hoạt động nhận thức biểu hiện ở sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí như hứng thú, chú ý, ý chí nhằm đạt mục đích học tập). Tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu về biểu tượng lịch sử và phương pháp dạy học lịch sử của GS. Phan Ngọc Liên, PGS.TS. Trịnh Đình Tùng, GS.TS. Nguyễn Thị Côi, tác giả Trần Văn Hưu, Phạm Ngọc Liễn. Đồng thời, nghiên cứu dựa trên các phân tích về đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học (tri giác mang tính đại thể, trí nhớ trực quan – hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ logic từ ngữ, tư duy cụ thể dựa vào dấu hiệu bên ngoài đang chuyển dần sang tư duy khái quát, sự chú ý có chủ định đang hình thành).

Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng phối hợp hệ thống phương pháp nghiên cứu sau:

  • Phương pháp nghiên cứu lí luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên ngành, sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu bồi dưỡng giáo viên tiểu học và các văn bản chỉ đạo đổi mới giáo dục.
  • Phương pháp điều tra bằng anket: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến đối với 20 giáo viên và 120 học sinh lớp 4 nhằm đánh giá thực trạng dạy học, nhận thức về vai trò của kênh hình và mức độ hứng thú học tập.
  • Phương pháp phỏng vấn: Trò chuyện trực tiếp với giáo viên và học sinh để làm rõ nguyên nhân của thực trạng dạy và học môn Lịch sử.
  • Phương pháp quan sát: Dự giờ các tiết học Lịch sử lớp 4 để quan sát cách thức tổ chức dạy học của giáo viên và khả năng khai thác thông tin từ kênh hình của học sinh.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức các tiết dạy thực nghiệm theo quy trình và biện pháp mới nhằm kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của đề tài.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lí, lượng hóa số liệu thu được từ phiếu điều tra và kết quả thực nghiệm sư phạm.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm chương trình và sách giáo khoa Lịch sử và Địa lí lớp 4 (phần Lịch sử), số liệu khảo sát ý kiến từ 20 giáo viên và 120 học sinh tại hai trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, cùng kết quả đánh giá các bài kiểm tra thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc khai thác kênh hình trong phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa lí lớp 4 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh

Chương này trình bày hệ thống khái niệm, vai trò của kênh hình, đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học và khảo sát thực trạng tại cơ sở giáo dục:

Khái quát về kênh hình: Kênh hình được xác định là phương tiện truyền đạt thông tin trực quan, bao gồm hình tĩnh (tranh ảnh, lược đồ, bản đồ, sa bàn...) và hình động (video, phim tư liệu). Kênh hình trong sách giáo khoa không đơn thuần là minh họa cho kênh chữ mà chính là "nguồn kiến thức" độc lập giúp học sinh tri giác, tái tạo biểu tượng lịch sử chân thực và khắc sâu kiến thức.

Thống kê hệ thống kênh hình sách giáo khoa Lịch sử lớp 4: Chương trình Lịch sử lớp 4 gồm 35 tiết/năm học (trong đó có 26 tiết cung cấp kiến thức mới). Tác giả đã thống kê toàn bộ hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa gồm:

  • Bản đồ, lược đồ: Gồm 3 bản đồ và 9 lược đồ (tiêu biểu như Lược đồ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, Lược đồ khu vực nổ ra khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Lược đồ trận chiến tại phòng tuyến sông Như Nguyệt, Lược đồ trận Chi Lăng, Lược đồ Quang Trung đại phá quân Thanh...).
  • Tranh nhân vật lịch sử: Có 4 tranh (tiêu biểu: Nguyễn Trãi, vua Lý Thái Tổ...).
  • Tranh ảnh lịch sử: Gồm 38 hình ảnh chụp di tích, di vật và tranh vẽ mô phỏng (tiêu biểu: Cảnh các bô lão trong Hội nghị Diên Hồng, Tượng Phật A-di-đà thời Lý, Thành Tây Đô, Nhà Thái học, Bia tiến sĩ tại Văn Miếu, Ngọ Môn Huế, Lăng Tự Đức...).

Khảo sát thực trạng: Kết quả khảo sát 120 học sinh cho thấy 91% (109 HS) thích học môn Lịch sử, 84,9% (101 HS) nhận thức việc sử dụng kênh hình là rất cần thiết, 86% (103 HS) thấy việc kết hợp hình ảnh giúp bài học dễ hiểu và dễ tiếp thu hơn. Có đến 87,5% rất hứng thú khi tham gia hoạt động học tập kết hợp tranh ảnh và 93,7% rất hứng thú khi ứng dụng công nghệ thông tin trong quan sát hình ảnh.

Khảo sát 20 giáo viên cho thấy 70% (14 GV) đánh giá kênh hình rất quan trọng và không thể thiếu, 30% (6 GV) vẫn cho rằng kênh hình chỉ để minh họa cho kênh chữ. Mức độ sử dụng kênh hình của giáo viên còn hạn chế: chỉ có 20% (4 GV) sử dụng thường xuyên, 80% (16 GV) thỉnh thoảng sử dụng. Nguyên nhân chủ yếu là do thiết bị dạy học trực quan tại trường còn thiếu, thời lượng tiết dạy hạn chế (35 phút/tiết) và giáo viên ngại chuẩn bị. Về phương pháp phối hợp để khai thác kênh hình, 100% giáo viên thường xuyên dùng phương pháp đàm thoại, 85% thường xuyên dùng phương pháp tường thuật, miêu tả, kể chuyện; trong khi thảo luận nhóm (20%), trò chơi (40%) và phát hiện giải quyết vấn đề (30%) ít được sử dụng thường xuyên hơn.

CHƯƠNG 2: Một số biện pháp khai thác kênh hình trong dạy học môn Lịch sử lớp 4 theo hướng phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh

Dựa trên ba cơ sở chính (nội dung chương trình môn Lịch sử lớp 4, kết quả điều tra thực trạng và đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học), tác giả xây dựng các nhóm biện pháp sư phạm định hướng phát huy tính tích cực:

  1. Khai thác kênh hình kết hợp với phương pháp dạy học dùng lời: Hướng dẫn giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, đàm thoại, tổ chức học sinh quan sát từ bao quát đến chi tiết, phân tích nội dung tư tưởng của hình ảnh, kết hợp lời giảng miêu tả, tường thuật giàu cảm xúc để giúp học sinh tự rút ra kiến thức lịch sử.
  2. Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm thiết kế và sử dụng kênh hình: Sử dụng phần mềm trình chiếu (PowerPoint), xử lý tư liệu hình ảnh, video clip, sơ đồ động nhằm tăng cường tính trực quan, kích thích hứng thú và tính chủ động khám phá của học sinh trong giờ học.
  3. Một số lưu ý khi sử dụng, khai thác kênh hình: Lựa chọn kênh hình đúng trọng tâm bài học, không lạm dụng quá nhiều hình ảnh gây phân tán chú ý của học sinh; bố trí thời gian quan sát hợp lí trong cấu trúc tiết dạy 35 phút; đảm bảo tính chính xác khoa học và tính giáo dục thẩm mĩ của tư liệu trực quan.

CHƯƠNG 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương này trình bày toàn bộ quá trình tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học:

  • Mục đích: Đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp khai thác kênh hình đã đề xuất trong việc nâng cao kết quả học tập và tính tích cực của học sinh lớp 4.
  • Đối tượng và địa bàn: Triển khai dạy thực nghiệm (TN) và đối chứng (ĐC) trên học sinh khối lớp 4 tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ (Đà Nẵng).
  • Phương pháp và tiến trình: Thiết kế các giáo án thực nghiệm có ứng dụng quy trình khai thác kênh hình cải tiến và ứng dụng công nghệ thông tin; tiến hành thực nghiệm qua 2 đợt (lần 1 và lần 2), sau mỗi đợt đều tiến hành kiểm tra, đánh giá định lượng bằng các bài kiểm tra chuyên biệt.
  • Phân tích kết quả: Xử lí số liệu thống kê điểm số giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm (được tổng hợp chi tiết tại Bảng 10 - Kết quả thực nghiệm lần 1 và Bảng 11 - Kết quả thực nghiệm lần 2 trong khóa luận) để rút ra kết luận sư phạm.

Kết quả và đóng góp

Dữ liệu thực trạng chính

Đối tượng Nội dung khảo sát Tiêu chí đánh giá Số lượng Tỉ lệ (%)
Học sinh (n=120) Mức độ yêu thích môn Lịch sử Thích 109 91,0%
Không thích 11 9,0%
Nhận thức về sự cần thiết của kênh hình Rất cần thiết 101 84,9%
Hiệu quả khi học kết hợp hình ảnh Dễ hiểu, dễ tiếp thu hơn 103 86,0%
Rắc rối, khó hiểu hơn 13 11,0%
Không mang lại hiệu quả 4 3,0%
Hứng thú với ứng dụng CNTT và hình ảnh Rất hứng thú 112 93,7%
Giáo viên (n=20) Nhận thức vai trò của kênh hình Rất quan trọng, không thể thiếu 14 70,0%
Chỉ để minh họa cho kênh chữ 6 30,0%
Mức độ sử dụng kênh hình Thường xuyên 4 20,0%
Thỉnh thoảng 16 80,0%
Cần thiết đưa thêm kênh hình động (video) Rất cần thiết 11 55,0%
Không cần thiết 9 45,0%

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đối với giáo viên: Cần chuyển đổi quan điểm từ việc dùng kênh hình để minh họa sang khai thác kênh hình như nguồn tri thức; chủ động thiết kế bài giảng điện tử có ứng dụng CNTT, xây dựng hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh tự khai thác tư liệu hình ảnh.
  • Đối với nhà trường và ngành giáo dục: Cần đầu tư trang thiết bị trực quan, phòng học bộ môn, máy chiếu và bổ sung hệ thống tranh ảnh, bản đồ lịch sử chuẩn hóa cho các trường tiểu học.

Đóng góp của đề tài

Tác giả đã chỉ ra khoảng trống trong các tài liệu nghiên cứu trước đây (chủ yếu tập trung ở bậc THCS và THPT hoặc nghiên cứu lý luận chung) để đi sâu khảo sát toàn diện hệ thống kênh hình môn Lịch sử lớp 4 (gồm 3 bản đồ, 9 lược đồ, 4 tranh nhân vật và 38 tranh ảnh lịch sử). Đồng thời, đề tài cung cấp số liệu thực nghiệm cụ thể tại hai trường tiểu học ở Đà Nẵng, chứng minh tính khả thi của việc kết hợp kênh hình với phương pháp dùng lời và ứng dụng công nghệ thông tin.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát và thực nghiệm của đề tài chỉ giới hạn ở 2 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ) với quy mô mẫu 20 giáo viên và 120 học sinh lớp 4, do đó mức độ khái quát cho các địa phương có điều kiện cơ sở vật chất khác nhau còn có giới hạn nhất định.
  • Hướng mở: Mở rộng nghiên cứu áp dụng quy trình khai thác kênh hình cho toàn bộ phân môn Lịch sử lớp 5 hoặc liên môn Lịch sử và Địa lí ở các khối lớp khác trong bậc tiểu học; nghiên cứu sâu hơn về việc số hóa học liệu lịch sử và tích hợp video ngắn tương tác trong dạy học tiểu học.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi: Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, giáo viên đang giảng dạy khối lớp 4 tại các trường tiểu học, cán bộ quản lý chuyên môn tiểu học và học viên nghiên cứu về phương pháp dạy học Lịch sử.
  • Nội dung giá trị: Bảng phân loại, thống kê toàn bộ hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 4 theo từng bài học (Chương 1) và các định hướng sư phạm về việc phối hợp câu hỏi đàm thoại kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác kênh hình trực quan (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát thực trạng trên đối tượng và địa bàn nào?

Khóa luận tiến hành khảo sát thực trạng trên 20 giáo viên và 120 học sinh khối lớp 4 tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng.

2. Sách giáo khoa Lịch sử lớp 4 có bao nhiêu kênh hình và được phân loại như thế nào?

Theo thống kê của tác giả, sách giáo khoa Lịch sử lớp 4 có tổng cộng 3 bản đồ, 9 lược đồ, 4 tranh nhân vật lịch sử và 38 tranh ảnh lịch sử (ảnh di tích, di vật, tranh mô phỏng sự kiện lịch sử).

3. Thực trạng sử dụng kênh hình của giáo viên tại hai trường tiểu học được khảo sát ra sao?

Có 70% giáo viên nhận thức kênh hình rất quan trọng, nhưng trên thực tế chỉ có 20% giáo viên sử dụng thường xuyên, 80% giáo viên chỉ thỉnh thoảng sử dụng. Nguyên nhân chính là do thiếu thốn đồ dùng trực quan tại trường và thời lượng tiết học 35 phút không đủ để giáo viên tổ chức khai thác sâu.

4. Học sinh phản hồi như thế nào về việc học môn Lịch sử kết hợp quan sát hình ảnh và công nghệ thông tin?

Đại đa số học sinh (86%) khẳng định việc nghe giảng kết hợp quan sát hình ảnh giúp bài học dễ hiểu và dễ tiếp thu hơn; 87,5% học sinh rất hứng thú khi tham gia hoạt động nhóm/trò chơi có tranh ảnh; và 93,7% rất hứng thú khi tiết học ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác hình ảnh.

5. Phương pháp dạy học nào được giáo viên sử dụng nhiều nhất để phối hợp khai thác kênh hình?

Phương pháp đàm thoại (hỏi - đáp) được 100% giáo viên sử dụng thường xuyên, tiếp theo là phương pháp tường thuật, miêu tả, kể chuyện đạt tỉ lệ 85% giáo viên sử dụng thường xuyên. Các phương pháp như thảo luận nhóm (20%), trò chơi (40%) và giải quyết vấn đề (30%) có tần suất sử dụng thường xuyên thấp hơn.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đậu Thị Ngọc Bích đã hệ thống hóa cơ sở lí luận và khảo sát toàn diện thực trạng sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch sử lớp 4 tại hai trường tiểu học ở Đà Nẵng. Đề tài làm rõ số lượng 54 kênh hình (bản đồ, lược đồ, tranh nhân vật, tranh ảnh) trong chương trình và chỉ ra sự chênh lệch giữa nhận thức tích cực của học sinh với mức độ sử dụng thực tế còn hạn chế của giáo viên. Thông qua việc đề xuất các biện pháp kết hợp phương pháp dùng lời và ứng dụng công nghệ thông tin cùng kết quả kiểm chứng thực nghiệm, công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở bậc tiểu học.