đặt vấn đề, cách tạo ra những tình huống có vấn đề của GV. Các quan niệm đó cần được phân loại để: - Quan niệm phù hợp thì tiếp tục phát triển. - Quan niệm chưa thật đầy đủ, chưa thật chính xác thì cần bổ sung, sửa chữa. - Quan niệm sai lệch thì cần loại bỏ.
Biện pháp: - Tiếp tục duy trì không khí lớp học. - Tạo tình huống có vấn đề để HS bộc lộ những quan niệm của mình. - Tổ chức cho HS thảo luận theo nhóm và phát biểu ý kiến của mình. - Có những nhận xét, đánh giá HS đúng mức, chấp nhận những quan niệm ngây ngô của HS.
Làm cho học sinh thấy được sự vô lý của các quan niệm sai lệch Giáo viên chú ý khai thác sâu vào những chỗ mà HS hay sai lầm, làm cho HS thấy được những quan niệm của mình là sai lệch đối với hiện tại. Luan van - 15 - Biện pháp: - Tăng cường giờ dạy có sử dụng thí nghiệm, đặc biệt là những thí nghiệm tự tạo đơn giản, rẻ tiền; các giờ dạy sử dụng các phương tiện nghe nhìn để giúp HS quan sát trực tiếp các hiện tượng Vật lý diễn ra. - Tăng cường đàm thoại và phát vấn. Thảo luận để đi đến kiến thức mới Khi HS thấy những quan niệm của mình là sai thì GV tổ chức thảo luận, bổ sung và rút ra những kết luận chính xác nhất.
Biện pháp: - GV phải có nghệ thuật sư phạm, biết dẫn dắt HS đi từ tình huống này đến tình huống khác và đi vào vấn đề cụ thể một cách logic. Các tình huống, vấn đề đưa ra phải vừa sức, không nên đưa ra những vấn đề quá khó, không thể giải quyết được. Khi đó HS sẽ cảm thấy chán nản, không muốn vượt qua nhưng chướng ngại đó và giờ học sẽ rơi vào tình huống bế tắc. - Tổ chức thảo luận, bổ sung và rút ra những kết luận chính xác.
- Giải thích rõ cho HS biết phạm vi ứng dụng của các định luật, ý nghĩa các đại lượng, các công thức Vật lý. - Để khẳng định sự đúng đắn của những kiến thức mới mà HS vừa lĩnh hội, GV nên gợi ý để HS tự đưa ra những phương án thí nghiệm kiểm tra và tiến hành kiếm chứng (nếu có). Liên hệ thực tế và vận dụng Đây là một bước quan trọng, giúp HS thực sự chuyển những kiến thức vừa mới thu nhận được thành kiến thức của chính mình, khắc phục triệt để những quan niệm sai lệch và hạn chế khả năng hồi phục của chúng trong tư duy HS. Ngoài ra còn rèn luyện cho HS thói quen thường xuyên vận dụng lý thuyết và thực tiễn.
Biện pháp: - Liên hệ với thực tế thông qua các ví dụ, thí nghiệm, những hiện tượng thực tế xảy ra trong tự nhiên. nhằm giúp cho HS có cái nhìn thế giới tự nhiên dưới một quan điểm vật lý thống nhất. Luan van - 16 - - Cho HS liên hệ kiến thức mới và kiến thức cũ nhằm kết nối kiến thức một cách chặt chẽ. - Liên hệ với các môn học khác, thông qua đó giáo dục tư tưởng và đạo đức cho HS.
- Vận dụng các kiến thức vào việc giải bài tập, từ đó giúp HS rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. Một số quan niệm sai lệch của học sinh về kiến thức Vật lý 2. Những quan niệm sai lệch của học sinh trong phần Cơ học - Quan niệm về lực: + Lực là nguyên nhân gây ra chuyển động. + Lực và phản lực không cân bằng nhau.
+ Lực và vận tốc luôn đi đôi với nhau. + Lực hướng tâm là một loại lực trong tự nhiên, có bản chất khác hẳn với các lực hấp dẫn, lực ma sát, lực đàn hồi. + Không có lực hấp dẫn giữa chúng ta và những vật xung quanh như bàn, ghế, tủ. + Đồng nhất hai khái niệm lực quán tính và lực quán tính li tâm.
- Quan niệm thế năng chỉ phụ thuộc vào vị trí tương đối của vật so với mặt đất chứ không phụ thuộc vào độ biến dạng của vật so với trạng thái chưa biến dạng. - Quan niệm hướng của phản lực luôn vuông góc với mặt tiếp xúc. - Quan niệm sự rơi của hai viên bi ở cùng một độ cao: + Viên bi rơi thẳng thì sẽ rơi xuống đất nhanh hơn. + Viên bi ném ngang rơi xuống đất sau vì phải đi quãng đường dài hơn.
- Quan niệm vật ném xuống có gia tốc lớn hơn vật được thả rơi tự do. - Quan niệm vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. - Quan niệm về lực ma sát: + Lực ma sát chỉ có khi vật chuyển động. Luan van - 17 - + Lực ma sát luôn luôn có hại.
+ Lực ma sát phụ thuộc vào diện tích bề mặt tiếp xúc. - Quan niệm về chuyển động: + Chuyển động có gia tốc: Lực phát động lớn hơn lực ma sát cản lại. + Chuyển động đều: Lực phát động lớn hơn lực ma sát + Dừng lại: Lực phát động nhỏ hơn lực ma sát. r r - Quan niệm biểu thức F12 F21 ( Định luật III Newtơn) tương đương biểu thức r r F12 F21 0 - Đồng nhất hai khái niệm đường đi và độ dời.
- Quan niệm trọng lực và trọng lượng là một. - Quan niệm về công của trọng lực phụ thuộc vào độ dài và dạng đường đi. - Quan niệm KWh là đơn vị của công suất. - Quan niệm về định luật Becnuli: + Khi ta thổi luồng khí vào giữa hai tờ giấy thì hai tờ giấy tách ra hai bên.
Những quan niệm sai lệch của học sinh trong phần Nhiệt học - Quan niệm nhiệt độ sôi của nước là 100 oC ở mọi điều kiện. - Quan niệm sự sôi và sự bay hơi giống nhau. - Quan niệm trong quá trình sôi, nhiệt độ của chất lỏng tăng lên. - Quan niệm chất lỏng dâng lên trong các ống hình trụ có đường kính khác nhau là giống nhau khi ta nhúng chúng vào chậu chất lỏng.
- Quan niệm về sự biến dạng của vật rắn: + Vật rỗng ruột dễ uốn cong hơn vật đặc ruột. Những quan niệm sai lệch của học sinh trong phần Điện học - Quan niệm dòng điện tĩnh tại: Dòng điện luôn có sẵn trong dây điện. - Quan niệm muốn có dòng điện trong mạch thì phải có nguồn điện. - Quan niệm về sự tiêu thụ dòng điện.
Luan van - 18 - - Quan niệm khi nối dụng cụ điện với nguồn điện thì nguồn điện phải có suất điện động bằng với hiệu điện thế định mức của dụng cụ đó, nếu không thì dụng cụ sẽ bị hỏng. - Quan niệm trong chân không và không khí không thể có dòng điện. Những quan niệm sai lệch của học sinh trong phần Quang học - Quan niệm ánh sáng truyền thẳng trong mọi môi trường. - Quan niệm sự lan truyền ánh sáng giống như những vật thể trong chuyển động cơ học, có ma sát, có tương tác, va chạm.
- Quan niệm nguồn âm thanh và nguồn sáng có vai trò quyết định đến vận tốc lan truyền: + Ánh chớp đi nhanh hơn ánh sáng một bóng đèn. + Ánh đèn pha ôtô đi nhanh hơn ánh sáng một đèn dầu. + Âm thanh mạnh truyền nhanh hơn âm thanh yếu. + Âm bổng truyền nhanh hơn âm trầm.
+ Siêu âm truyền nhanh hơn âm thanh bình thường. - Quan niệm có tia nhìn, nghĩa là mắt nhìn thấy mọi vật là do mắt phát ra tia chiếu vào vật. - Quan niệm Mặt trăng khi mới mọc to hơn khi mọc đã lâu. - Quan niệm những ngôi sao trên trời nhấp nháy (biết "chớp mắt").
- Chưa hiểu rõ ý nghĩa tường minh của nguồn sáng và vật sáng. - Quan niệm về sự tạo ảnh qua gương phẳng: + Ảnh tạo bởi gương phẳng nằm trong gương (trong khoảng từ mặt trước đến mặt sau của gương) + Ảnh nằm sau gương nhưng không xác định được ở đâu. Tiến hành soạn thảo một số giáo án nhằm khắc phục những quan niệm sai lệch của học sinh. Giáo án 1 “HIỆN TƯỢNG CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ.
SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CẢM ỨNG (tiết 1)”. Bài “Hiện tượng cảm ứng điện từ. Suất điện động cảm ứng.” là bài đầu tiên của chương "Cảm ứng điện từ" thuộc chương trình Vật lý 11 Nâng cao. Trước khi học bài này, HS thường có quan niệm rằng: Muốn trong vật dẫn có dòng điện thì phải nối hai đầu vật dẫn với nguồn điện hoặc giữa hai đầu vật dẫn phải có một hiệu điện thế.
Để khắc phục quan niệm này, chúng tôi phối hợp sử dụng nhiều phương pháp, trong đó phương pháp nêu vấn đề là chính. Mục tiêu của bài: - Kiến thức: Phát biểu được định nghĩa từ thông, ý nghĩa của từ thông, hiện tượng cảm ứng điện từ, định luật Len-xơ. - Kĩ năng: Giải thích một số hiện tượng trong thực tế, biết cách giải bài tập, biết cách xác định chiều dòng điện cảm ứng. Cấu trúc của bài này gồm 4 phần: 1.
Khái niệm từ thông. Hiện tượng cảm ứng điện từ. Chiều của dòng điện cảm ứng. Định luật Lenxơ.
Phần 2 và 4 dạy theo SGK. Chúng tôi chỉ xin trình bày phần 1 và 3 theo hướng khắc phục quan niệm sai lệch của HS. Tạo điều kiện tốt cho giờ học diễn ra GV: Cô có vòng dây A, muốn cho vòng dây này có dòng điện thì phải làm thế nào? HS: Phải nối hai đầu vòng dây với một nguồn điện. GV: Nối vòng dây A với nguồn điện (Hình.
2 Luan van - 20 - Đóng khoá K, HS quan sát thấy kim điện kế bị lệch => trong mạch có dòng điện. Làm bộc lộ quan niệm của HS GV: Bây giờ cô có mạch điện như (Hình.2) thì trong mạch có dòng điện không? HS: Khẳng định là vòng dây A không thể có dòng điện. GV: Cô có thể tạo ra dòng điện trong vòng dây A bằng cách cho một nam châm thẳng đi vào vòng dây được không? HS: Khẳng định là không thể được. Làm cho HS thấy được sự vô lý của các quan niệm sai lệch GV: Làm thí nghiệm cho nam châm đi vào trong vòng dây, rồi đi ra xa vòng dây.
Chiều dịch chuyển của NC Chiều dịch chuyển của NC A A G G K K Hình. 3 HS: Quan sát thấy kim điện kế bị lệch, chứng tỏ trong mạch có dòng điện. HS hoàn toàn bất ngờ. GV: Tại sao trong vòng dây A xuất hiện dòng điện? HS: Lúng túng.
HS: Do nam châm chuyển động so với vòng dây. GV: Nếu bây giờ cho nam châm đứng yên thì trong vòng dây có dòng điện không? HS: Khẳng định là không. GV: Tiếp tục làm thí nghiệm: cho nam châm đứng yên, dịch chuyển vòng dây. HS: Quan sát thấy kim điện kế bị lệch, chứng tỏ trong mạch có dòng điện.
HS lại thấy bất ngờ.