Khắc Phục Quan Niệm Sai Lệch Của Học Sinh Trong Dạy Học Vật Lý Ở Trường Trung Học Phổ Thông

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp khắc phục một số quan niệm sai lệch của học sinh trong dạy học vật lý ở trường, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại Học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Sư Phạm Vật Lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp
61
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ TÂM LÍ HỌC VÀ LÍ LUẬN DẠY HỌC CỦA VIỆC HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA HỌC SINH

1.1. Khái niệm quan niệm

1.2. Quan niệm của học sinh

1.2.1. Khái niệm quan niệm của học sinh

1.2.2. Nguồn gốc quan niệm của học sinh

1.2.3. Đặc điểm quan niệm của học sinh

1.2.4. Vai trò quan niệm của học sinh trong dạy học Vật lý

1.2.5. Thái độ đối với quan niệm của học sinh

1.3. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG QUAN NIỆM SAI LỆCH CỦA HỌC SINH TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VẬT LÝ

2.1. Khắc phục những quan niệm sai lệch của học sinh

2.2. Chiến lược dạy học mới

2.2.1. Một số điểm cơ bản của chiến lược

2.2.2. Một số đề xuất để góp phần khắc phục những quan niệm sai lệch của học sinh

2.2.3. Xây dựng tiến trình khắc phục những quan niệm sai lệch của học sinh trong dạy học Vật lý

2.3. Tạo điều kiện tốt cho giờ học diễn ra

Tóm tắt

I. Khái niệm quan niệm

Quan niệm là sự nhận thức về một vấn đề, một sự kiện. Theo từ điển Tiếng Việt, quan niệm được định nghĩa là sự hình thành một khái niệm trong óc con người. Đối với học sinh, quan niệm là những hiểu biết mà các em có trước giờ học. Những hiểu biết này thường được hình thành từ kinh nghiệm sống và hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên, không phải lúc nào những quan niệm này cũng phản ánh đúng bản chất khoa học của sự vật, hiện tượng. Đặc biệt, nhiều quan niệm của học sinh là sai lệch, gây khó khăn trong quá trình học tập. Việc nhận diện và khắc phục những quan niệm sai lệch này là rất cần thiết để nâng cao chất lượng dạy học vật lý.

1.1. Nguồn gốc quan niệm của học sinh

Quan niệm của học sinh được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm kinh nghiệm sống, ngôn ngữ và kiến thức từ các môn học khác. Những hiểu biết này có thể dẫn đến những quan niệm không chính xác về các khái niệm vật lý. Ví dụ, học sinh có thể nghĩ rằng âm thanh là tiếng động mà tai nghe được mà không hiểu rõ bản chất của sóng âm. Điều này cho thấy sự cần thiết phải giáo dục và điều chỉnh những quan niệm này để giúp học sinh có cái nhìn đúng đắn hơn về vật lý.

II. Những biện pháp khắc phục quan niệm sai lệch

Để khắc phục những quan niệm sai lệch của học sinh trong dạy học vật lý, cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau. Một trong những biện pháp quan trọng là tạo ra không khí lớp học tích cực, khuyến khích học sinh tham gia thảo luận và đặt câu hỏi. Giáo viên cần phải hiểu rõ những quan niệm của học sinh để từ đó có thể điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp. Việc sử dụng các tình huống có vấn đề, thí nghiệm thực tế và các phương tiện dạy học hiện đại cũng là những cách hiệu quả để giúp học sinh nhận thức đúng về các khái niệm vật lý.

2.1. Tạo không khí lớp học tích cực

Không khí lớp học có ảnh hưởng lớn đến quá trình học tập của học sinh. Một không khí tích cực sẽ khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động học tập, từ đó giúp các em dễ dàng tiếp thu kiến thức. Giáo viên cần tạo ra một môi trường học tập thân thiện, cởi mở, nơi mà học sinh cảm thấy thoải mái khi chia sẻ ý kiến và thảo luận. Điều này không chỉ giúp học sinh tự tin hơn mà còn tạo điều kiện cho việc khắc phục những quan niệm sai lệch.

III. Thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là một phần quan trọng trong việc đánh giá tính khả thi của các biện pháp khắc phục quan niệm sai lệch. Qua thực nghiệm, giáo viên có thể kiểm tra hiệu quả của các phương pháp dạy học đã áp dụng, từ đó điều chỉnh và cải tiến cho phù hợp hơn. Việc thực hiện các bài giảng thử nghiệm, theo dõi sự tiến bộ của học sinh và thu thập phản hồi từ các em sẽ giúp giáo viên có cái nhìn rõ hơn về hiệu quả của các biện pháp đã thực hiện.

3.1. Đánh giá hiệu quả dạy học

Đánh giá hiệu quả dạy học không chỉ dựa vào kết quả bài kiểm tra mà còn cần xem xét sự thay đổi trong nhận thức của học sinh. Việc theo dõi sự tiến bộ của học sinh qua các bài kiểm tra, thảo luận nhóm và phản hồi cá nhân sẽ giúp giáo viên nhận diện được những quan niệm sai lệch còn tồn tại và có biện pháp khắc phục kịp thời. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng dạy học mà còn giúp học sinh phát triển tư duy khoa học.

25/01/2025
Luận văn tốt nghiệp khắc phục một số quan niệm sai lệch của học sinh trong dạy học vật lý ở trường trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề, cách tạo ra những tình huống có vấn đề của GV. Các quan niệm đó cần được phân loại để: - Quan niệm phù hợp thì tiếp tục phát triển. - Quan niệm chưa thật đầy đủ, chưa thật chính xác thì cần bổ sung, sửa chữa. - Quan niệm sai lệch thì cần loại bỏ.

Biện pháp: - Tiếp tục duy trì không khí lớp học. - Tạo tình huống có vấn đề để HS bộc lộ những quan niệm của mình. - Tổ chức cho HS thảo luận theo nhóm và phát biểu ý kiến của mình. - Có những nhận xét, đánh giá HS đúng mức, chấp nhận những quan niệm ngây ngô của HS.

Làm cho học sinh thấy được sự vô lý của các quan niệm sai lệch Giáo viên chú ý khai thác sâu vào những chỗ mà HS hay sai lầm, làm cho HS thấy được những quan niệm của mình là sai lệch đối với hiện tại. Luan van - 15 - Biện pháp: - Tăng cường giờ dạy có sử dụng thí nghiệm, đặc biệt là những thí nghiệm tự tạo đơn giản, rẻ tiền; các giờ dạy sử dụng các phương tiện nghe nhìn để giúp HS quan sát trực tiếp các hiện tượng Vật lý diễn ra. - Tăng cường đàm thoại và phát vấn. Thảo luận để đi đến kiến thức mới Khi HS thấy những quan niệm của mình là sai thì GV tổ chức thảo luận, bổ sung và rút ra những kết luận chính xác nhất.

Biện pháp: - GV phải có nghệ thuật sư phạm, biết dẫn dắt HS đi từ tình huống này đến tình huống khác và đi vào vấn đề cụ thể một cách logic. Các tình huống, vấn đề đưa ra phải vừa sức, không nên đưa ra những vấn đề quá khó, không thể giải quyết được. Khi đó HS sẽ cảm thấy chán nản, không muốn vượt qua nhưng chướng ngại đó và giờ học sẽ rơi vào tình huống bế tắc. - Tổ chức thảo luận, bổ sung và rút ra những kết luận chính xác.

- Giải thích rõ cho HS biết phạm vi ứng dụng của các định luật, ý nghĩa các đại lượng, các công thức Vật lý. - Để khẳng định sự đúng đắn của những kiến thức mới mà HS vừa lĩnh hội, GV nên gợi ý để HS tự đưa ra những phương án thí nghiệm kiểm tra và tiến hành kiếm chứng (nếu có). Liên hệ thực tế và vận dụng Đây là một bước quan trọng, giúp HS thực sự chuyển những kiến thức vừa mới thu nhận được thành kiến thức của chính mình, khắc phục triệt để những quan niệm sai lệch và hạn chế khả năng hồi phục của chúng trong tư duy HS. Ngoài ra còn rèn luyện cho HS thói quen thường xuyên vận dụng lý thuyết và thực tiễn.

Biện pháp: - Liên hệ với thực tế thông qua các ví dụ, thí nghiệm, những hiện tượng thực tế xảy ra trong tự nhiên. nhằm giúp cho HS có cái nhìn thế giới tự nhiên dưới một quan điểm vật lý thống nhất. Luan van - 16 - - Cho HS liên hệ kiến thức mới và kiến thức cũ nhằm kết nối kiến thức một cách chặt chẽ. - Liên hệ với các môn học khác, thông qua đó giáo dục tư tưởng và đạo đức cho HS.

- Vận dụng các kiến thức vào việc giải bài tập, từ đó giúp HS rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. Một số quan niệm sai lệch của học sinh về kiến thức Vật lý 2. Những quan niệm sai lệch của học sinh trong phần Cơ học - Quan niệm về lực: + Lực là nguyên nhân gây ra chuyển động. + Lực và phản lực không cân bằng nhau.

+ Lực và vận tốc luôn đi đôi với nhau. + Lực hướng tâm là một loại lực trong tự nhiên, có bản chất khác hẳn với các lực hấp dẫn, lực ma sát, lực đàn hồi. + Không có lực hấp dẫn giữa chúng ta và những vật xung quanh như bàn, ghế, tủ. + Đồng nhất hai khái niệm lực quán tính và lực quán tính li tâm.

- Quan niệm thế năng chỉ phụ thuộc vào vị trí tương đối của vật so với mặt đất chứ không phụ thuộc vào độ biến dạng của vật so với trạng thái chưa biến dạng. - Quan niệm hướng của phản lực luôn vuông góc với mặt tiếp xúc. - Quan niệm sự rơi của hai viên bi ở cùng một độ cao: + Viên bi rơi thẳng thì sẽ rơi xuống đất nhanh hơn. + Viên bi ném ngang rơi xuống đất sau vì phải đi quãng đường dài hơn.

- Quan niệm vật ném xuống có gia tốc lớn hơn vật được thả rơi tự do. - Quan niệm vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. - Quan niệm về lực ma sát: + Lực ma sát chỉ có khi vật chuyển động. Luan van - 17 - + Lực ma sát luôn luôn có hại.

+ Lực ma sát phụ thuộc vào diện tích bề mặt tiếp xúc. - Quan niệm về chuyển động: + Chuyển động có gia tốc: Lực phát động lớn hơn lực ma sát cản lại. + Chuyển động đều: Lực phát động lớn hơn lực ma sát + Dừng lại: Lực phát động nhỏ hơn lực ma sát. r r - Quan niệm biểu thức F12  F21 ( Định luật III Newtơn) tương đương biểu thức r r F12  F21  0 - Đồng nhất hai khái niệm đường đi và độ dời.

- Quan niệm trọng lực và trọng lượng là một. - Quan niệm về công của trọng lực phụ thuộc vào độ dài và dạng đường đi. - Quan niệm KWh là đơn vị của công suất. - Quan niệm về định luật Becnuli: + Khi ta thổi luồng khí vào giữa hai tờ giấy thì hai tờ giấy tách ra hai bên.

Những quan niệm sai lệch của học sinh trong phần Nhiệt học - Quan niệm nhiệt độ sôi của nước là 100 oC ở mọi điều kiện. - Quan niệm sự sôi và sự bay hơi giống nhau. - Quan niệm trong quá trình sôi, nhiệt độ của chất lỏng tăng lên. - Quan niệm chất lỏng dâng lên trong các ống hình trụ có đường kính khác nhau là giống nhau khi ta nhúng chúng vào chậu chất lỏng.

- Quan niệm về sự biến dạng của vật rắn: + Vật rỗng ruột dễ uốn cong hơn vật đặc ruột. Những quan niệm sai lệch của học sinh trong phần Điện học - Quan niệm dòng điện tĩnh tại: Dòng điện luôn có sẵn trong dây điện. - Quan niệm muốn có dòng điện trong mạch thì phải có nguồn điện. - Quan niệm về sự tiêu thụ dòng điện.

Luan van - 18 - - Quan niệm khi nối dụng cụ điện với nguồn điện thì nguồn điện phải có suất điện động bằng với hiệu điện thế định mức của dụng cụ đó, nếu không thì dụng cụ sẽ bị hỏng. - Quan niệm trong chân không và không khí không thể có dòng điện. Những quan niệm sai lệch của học sinh trong phần Quang học - Quan niệm ánh sáng truyền thẳng trong mọi môi trường. - Quan niệm sự lan truyền ánh sáng giống như những vật thể trong chuyển động cơ học, có ma sát, có tương tác, va chạm.

- Quan niệm nguồn âm thanh và nguồn sáng có vai trò quyết định đến vận tốc lan truyền: + Ánh chớp đi nhanh hơn ánh sáng một bóng đèn. + Ánh đèn pha ôtô đi nhanh hơn ánh sáng một đèn dầu. + Âm thanh mạnh truyền nhanh hơn âm thanh yếu. + Âm bổng truyền nhanh hơn âm trầm.

+ Siêu âm truyền nhanh hơn âm thanh bình thường. - Quan niệm có tia nhìn, nghĩa là mắt nhìn thấy mọi vật là do mắt phát ra tia chiếu vào vật. - Quan niệm Mặt trăng khi mới mọc to hơn khi mọc đã lâu. - Quan niệm những ngôi sao trên trời nhấp nháy (biết "chớp mắt").

- Chưa hiểu rõ ý nghĩa tường minh của nguồn sáng và vật sáng. - Quan niệm về sự tạo ảnh qua gương phẳng: + Ảnh tạo bởi gương phẳng nằm trong gương (trong khoảng từ mặt trước đến mặt sau của gương) + Ảnh nằm sau gương nhưng không xác định được ở đâu. Tiến hành soạn thảo một số giáo án nhằm khắc phục những quan niệm sai lệch của học sinh. Giáo án 1 “HIỆN TƯỢNG CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ.

SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CẢM ỨNG (tiết 1)”. Bài “Hiện tượng cảm ứng điện từ. Suất điện động cảm ứng.” là bài đầu tiên của chương "Cảm ứng điện từ" thuộc chương trình Vật lý 11 Nâng cao. Trước khi học bài này, HS thường có quan niệm rằng: Muốn trong vật dẫn có dòng điện thì phải nối hai đầu vật dẫn với nguồn điện hoặc giữa hai đầu vật dẫn phải có một hiệu điện thế.

Để khắc phục quan niệm này, chúng tôi phối hợp sử dụng nhiều phương pháp, trong đó phương pháp nêu vấn đề là chính. Mục tiêu của bài: - Kiến thức: Phát biểu được định nghĩa từ thông, ý nghĩa của từ thông, hiện tượng cảm ứng điện từ, định luật Len-xơ. - Kĩ năng: Giải thích một số hiện tượng trong thực tế, biết cách giải bài tập, biết cách xác định chiều dòng điện cảm ứng. Cấu trúc của bài này gồm 4 phần: 1.

Khái niệm từ thông. Hiện tượng cảm ứng điện từ. Chiều của dòng điện cảm ứng. Định luật Lenxơ.

Phần 2 và 4 dạy theo SGK. Chúng tôi chỉ xin trình bày phần 1 và 3 theo hướng khắc phục quan niệm sai lệch của HS. Tạo điều kiện tốt cho giờ học diễn ra GV: Cô có vòng dây A, muốn cho vòng dây này có dòng điện thì phải làm thế nào? HS: Phải nối hai đầu vòng dây với một nguồn điện. GV: Nối vòng dây A với nguồn điện (Hình.

2 Luan van - 20 - Đóng khoá K, HS quan sát thấy kim điện kế bị lệch => trong mạch có dòng điện. Làm bộc lộ quan niệm của HS GV: Bây giờ cô có mạch điện như (Hình.2) thì trong mạch có dòng điện không? HS: Khẳng định là vòng dây A không thể có dòng điện. GV: Cô có thể tạo ra dòng điện trong vòng dây A bằng cách cho một nam châm thẳng đi vào vòng dây được không? HS: Khẳng định là không thể được. Làm cho HS thấy được sự vô lý của các quan niệm sai lệch GV: Làm thí nghiệm cho nam châm đi vào trong vòng dây, rồi đi ra xa vòng dây.

Chiều dịch chuyển của NC Chiều dịch chuyển của NC A A G G K K Hình. 3 HS: Quan sát thấy kim điện kế bị lệch, chứng tỏ trong mạch có dòng điện. HS hoàn toàn bất ngờ. GV: Tại sao trong vòng dây A xuất hiện dòng điện? HS: Lúng túng.

HS: Do nam châm chuyển động so với vòng dây. GV: Nếu bây giờ cho nam châm đứng yên thì trong vòng dây có dòng điện không? HS: Khẳng định là không. GV: Tiếp tục làm thí nghiệm: cho nam châm đứng yên, dịch chuyển vòng dây. HS: Quan sát thấy kim điện kế bị lệch, chứng tỏ trong mạch có dòng điện.

HS lại thấy bất ngờ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khắc Phục Quan Niệm Sai Lệch Của Học Sinh Trong Dạy Học Vật Lý Ở Trường Trung Học Phổ Thông" của tác giả Võ Thị Thúy Nga, thuộc Đại Học Đà Nẵng, tập trung vào việc nhận diện và khắc phục những quan niệm sai lệch của học sinh trong quá trình học tập môn Vật lý. Bài viết không chỉ chỉ ra những hiểu lầm phổ biến mà học sinh thường gặp phải, mà còn đề xuất các phương pháp giảng dạy hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức và khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh. Điều này không chỉ giúp cải thiện kết quả học tập mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề của học sinh.

Để mở rộng thêm kiến thức về phương pháp dạy học Vật lý, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Vật Lí Theo Quy Trình Nghiên Cứu Khoa Học Chương Điện Từ Học", nơi trình bày quy trình nghiên cứu khoa học trong giảng dạy Vật lý, hoặc bài viết "Luận án tiến sĩ: Xây dựng và sử dụng phim học tập trong dạy học phần cơ học vật lý lớp 10 nhằm bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề của học sinh", đề cập đến việc sử dụng phim học tập để nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến việc cải thiện phương pháp dạy học Vật lý, giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về lĩnh vực này.