CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI VIỆC PHÒNG NGỪA QUẤY RỐI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH NỮ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.Lý luận về công tác xã hội nhóm 1.Khái niệm công tác xã hội Có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về Công tác xã hội. Mỗi tổ chức, Hiệp hội hay quốc gia nào đó đều có cách nhìn nhận riêng của họ, nhưng tựu chung lại các định nghĩa về công tác xã hội đều có những điểm chung. Có thể khái quát về công tác xã hội như sau: “ Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội”.Khái niệm, tầm quan trọng của công tác xã hội nhóm 1.Khái niệm Công tác xã hội nhóm Có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận về CTXH nhóm, trong Từ điển công tác xã hội của Barker(1995)được định nghĩa như sau: “ Một định hướng và phương pháp can thiệp công tác xã hội, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm và những vấn đề chung, họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể. Mục tiêu của công tác xã hội nhóm không chỉ là trị liệu những vấn đề tâm lý, tình cảm mà còn là trao đổi thông tin, phát triển các kỹ năng xã hội và lao động, thay đổi các định hướng giá trị và làm chuyển biến các hành vi chống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả.
Các kỹ thuật can thiệp đều được đưa vào quá 14 trình công tác xã hội nhóm nhưng không hạn chế kiểm soát những trao đổi về trị liệu (tr. Theo các tác giả Toseland và Rivas(1998) đưa ra một định nghĩa bao quát được bản chất của công tác xã hội nhóm như sau: “ Công tác xã hội nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ. Hoạt động này hướng trực tiếp tới các cá nhân các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp dịch vụ(tr.12)[10] Dù được định nghĩa trên phương diện nào thì có thể định nghĩa một cách chung nhất như sau:Công tác xã hội nhóm là phương pháp can thiệp của công tác xã hội. Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được với mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn.
Trong hoạt động công tác xã hội nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của trưởng nhóm (có thể là nhân viên công tác xã hội và có thể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân viên công tác xã hội (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm) [10]. Từ định nghĩa trên có thể nhận thấy CTXH nhóm có đặc điểm đó là: Đối tượng tác động của CTXH nhóm là nhóm, là mối tương tác giữa các nhóm viên, là mục đích, bầu không khí, sinh hoạt nhóm. Công tác xã hội nhóm là sử dụng cơ cấu nhóm và năng động trong nội bộ nhóm để đem đến những thay đổi về nhận thức, niềm tin và hành vi. Các thành viên trong nhóm chia sẻ kinh nghiệm và sử dụng nguồn lực của cá nhân và của nhóm để giải quyết vấn đề của họ.Tầm quan trọng của công tác xã hội nhóm Công tác xã hội nhóm được coi là một trong những phương pháp can thiệp chính của nghề công tác xã hội chuyên nghiệp trên thế giới.
Trong các trung tâm, các cơ sở, trường học hay ở cộng đồng, hỗ trợ những người dễ bị tổn thương, phương pháp làm việc với nhóm có những tác động quan trọng đến việc hỗ trợ những thân chủ giải quyết vấn đề. Có thể, kể đến những lợi ích của công tác xã hội nhóm như sau Thứ nhất, công tác xã hội nhóm tạo ra cảm giác được thuộc về nhóm cho các thân chủ. Đây là một nhu cầu cơ bản của con người, được tham gia vào sinh hoạt nhóm, được sự chấp nhận và tôn trọng của các thành viên trong nhóm. Quá trình trải nghiệm và tương tác nhóm giúp thân chủ sẽ thấy mình cũng quan trọng và có giá trị.
Thứ hai, công tác xã hội nhóm tạo ra cơ hội để thử nghiệm thực tế. Trong nhóm các thành viên sẽ có cơ hội thực hành thay đổi hành vi trước khi thực hiện những hành vi đó trong các tình huống thực tiễn. Để từ đó thân chủ có được ý niệm những hành vi mới thay đổi sẽ được chấp nhận ở ngoài nhóm như thế nào. Thứ ba, công tác xã hội nhóm tạo ra sự hỗ trợ qua lại lẫn nhau.
Qua quá trình tương tác qua lại các thành viên, tạo ra sự gắn bó với nhau. Mỗi thành viên có cơ hội được giúp đỡ người khác và từ đó cho họ cảm nhận về trách nhiệm với người khác và với chính mình. Thứ tư, công tác xã hội nhóm tạo ra sức mạnh và nghị lực cho thân chủ. Thông qua tương tác giữa các thành viên trong các hoạt động, nhóm bày tỏ và chia sẻ những kinh nghiệm, phương pháp, cách thức với nhau… Dưới sự điều phối của nhân viên xã hội giúp các thành viên nhận ra những điểm mạnh và lấy lại sức mạnh và nghị lực vươn lên(Reid 1997).
16 Thứ năm, công tác xã hội nhóm giúp tăng cường cơ hội để thu hút nguồn lực từ xã hội, cộng đồng, các tổ chức xã hội và các cá nhân. Tóm lại, công tác xã hội nhóm có vai trò quan trọng trong quá trình hỗ trợ thân chủ yếu thế có những khó khăn trong xã hội. Vai trò quan trọng của công tác xã hội nhóm thể hiện ở những tác động về mặt tâm lý, tình cảm mang lại cho các cá nhân có khó khăn trong cuộc sông như giải tỏa tâm tư, tình cảm, giúp họ lấy lại sự lạc quan, giá trị bản thân. Bên cạnh đó, công tác xã hội nhóm còn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cá nhân về mặt xã hội, giúp họ tự tin trong quản lý cuộc sống của bản thân họ, của gia đình họ và hòa nhập hơn với cuộc sống xã hội.
Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh nữ trung học cơ sở 1.Khái niệm học sinh nữ trung học cơ sở Tuổi thiếu niên bao gồm cả trẻ em trai và trẻ em gái trong độ tuổi từ 11- 15 tuổi, được gọi là lứa tuổi học sinh trung học sơ sở( hay còn gọi là học sinh cấp 2). Vì vậy học sinh nữ trung học cơ sở là những học sinh mang đặc điểm sinh học của giới tính nữ và đang trong độ tuổi thiếu niên từ 11 – 15 tuổi. Đặc điểm tâm lý học sinh nữ Đây là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 - 15 tuổi, các em bước vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9). Lứa tuổi này là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, phát triển mọi mặt: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”,điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động…của các em.
Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống. 17 Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội. Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống. Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn.
Đặc biệt, những em học sinh nữ thì biết đến việc phụ giúp bố mẹ nấu cơm, rửa bát, quét nhà, trông em, giặt quần áo, biết đi chợ. Những trẻ em gái ở nông thôn có thể ra đồng làm các công việc nhẹ của nhà nông. Đối với những trẻ em gái ở thành thị, hay gia đình thuộc khu vực nông thôn có điều kiện khá giả thì tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít. Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, điệu đà, đam mê thần tượng.
Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: cảm thông, chú ý đến hình thức, coi trọng tình bạn, thích được làm chị với đám bạn con trai cùng tuổi, có những hoài bão rất “ người lớn” thích được độc lập, tự chủ nhưng thực tế vẫn còn là học sinh, và phụ thuộc về mặt vật chất vào bố mẹ. Giai đoạn này, sự phát triển các quá trình nhận thức có những biến đổi cơ bản trong hoạt động tư duy, trí nhớ của trẻ đã mang tính chất chủ định và tư duy trừu tượng. Đời sống tình cảm ở lứa tuổi này đã sâu sắc, phong phú song lại bồng bột, dễ bị kích động, vui buồn thay đổi nhanh chóng. Trong mối quan hệ bạn bè xuất hiện tình cảm khác giới, có nguyện vọng được bạn khác giới quan 18 tâm, yêu thích.
Ở lứa tuổi này, tình cảm đã bắt đầu phục tùng ý chí, tình cảm đạo đức phát triển mạnh. Đặc điểm sinh lý học sinh nữ trung học cơ sở a/ Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lí Sự phát triển cơ thể của thiếu niên diễn ra mạnh mẻ nhưng không cân đối.