Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là chủ trương nhất quán của Nhà nước Việt Nam, được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung tại Luật Trẻ em năm 2016), cũng như Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (CRC) mà Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn.

Trẻ em lang thang kiếm sống trên đường phố là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Các em thường xuyên đối mặt với các nguy cơ bị bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục thương mại, lạm dụng chất gây nghiện, buôn bán người và vi phạm pháp luật. Do thiếu giấy tờ tùy thân, nhóm trẻ này gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ xã hội, y tế và giáo dục. Số liệu thống kê được nêu trong văn bản cho thấy số lượng trẻ em lang thang ở Việt Nam có sự biến động phức tạp: năm 2005 ghi nhận 17.602 em; đến năm 2015 vẫn còn khoảng 15.000 em trên phạm vi cả nước. Khác với trẻ em sống trong môi trường gia đình an toàn, trẻ em lang thang không có sự bảo bọc trực tiếp từ cha mẹ nên nhu cầu được bảo vệ xuất hiện cấp thiết hơn. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang là yêu cầu cần thiết nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng và thực thi các chính sách bảo vệ trẻ em.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang và một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này tại một số thành phố lớn ở nước ta; trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp nhằm bảo vệ cho nhóm trẻ em này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Xác định cơ sở lý luận về nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang: xây dựng khái niệm công cụ, làm rõ mức độ nhu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang.
    2. Tìm hiểu thực trạng nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang tại thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và nghiên cứu các trường hợp điển hình.
    3. Kiến nghị một số giải pháp nhằm bảo vệ trẻ em lang thang tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện và mức độ nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào 4 biểu hiện nhu cầu cơ bản:
    1. Nhu cầu được bảo vệ thân thể;
    2. Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe;
    3. Nhu cầu chống xâm hại tình dục;
    4. Nhu cầu được học tập để biết chữ và có hiểu biết xã hội. Đồng thời, luận án khảo sát hai nhóm yếu tố ảnh hưởng: yếu tố chủ quan (nhận thức, sở thích, tình cảm) và yếu tố khách quan (gia đình, xã hội).
  • Phạm vi khách thể: Trẻ em lang thang kiếm sống trên đường phố trong độ tuổi từ 6 đến dưới 16 tuổi, không sống cùng gia đình và không sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội. Ngoài ra, nghiên cứu khảo sát thêm cán bộ quản lý bảo vệ chăm sóc trẻ em, cán bộ cơ sở và chủ nhà trọ.
  • Phạm vi không gian: Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu và thu thập dữ liệu được triển khai từ năm 2011 đến năm 2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu quốc tế theo ba nhóm hướng tiếp cận chính:

  • Hướng nghiên cứu về lý thuyết nhu cầu:
    • Lý thuyết bản năng: Sigmund Freud phân tích vai trò của động cơ và nhu cầu vô thức trong việc thúc đẩy hành vi con người.
    • Lý thuyết nhu cầu biểu lộ: H. Murray phân loại nhu cầu tâm lý hình thành do tương tác với môi trường bên ngoài và chịu sự điều chỉnh của ngoại cảnh.
    • Lý thuyết hoạt động tâm lý: A. N. Leontiev (1903–1979) khẳng định nhu cầu có nguồn gốc từ hoạt động thực tiễn theo mô hình Hoạt động $\rightarrow$ Nhu cầu $\rightarrow$ Hoạt động; nhu cầu phải gắn liền với một đối tượng cụ thể.
    • Lý thuyết phân cấp nhu cầu: Abraham Maslow xây dựng thang bậc 5 nhóm nhu cầu (sinh lý, an toàn, yêu thương, được tôn trọng, tự thể hiện). Nhóm nghiên cứu E. Suttle (1972) kế thừa và phân chia thành hai cấp độ: nhu cầu sinh học và các nhu cầu bậc cao.
  • Hướng nghiên cứu về mô hình bảo vệ trẻ em:
    • Mô hình Châu Âu: Pháp luật can thiệp khi an sinh của trẻ gặp nguy hiểm (Pháp hỗ trợ vật chất và tâm lý; Phần Lan can thiệp khi môi trường hoặc hành vi gây hại; Thụy Điển quy định cơ chế bảo vệ người dưới 18 tuổi; Kosovo hỗ trợ qua Trung tâm Công tác Xã hội; Nicaragua và Bulgaria quy định cụ thể các nguy cơ bạo hành, bóc lột, vô gia cư).
    • Mô hình Anh: Quy định chi tiết các trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, lạm dụng, sao nhãng nghiêm trọng hoặc bị tác động bởi ma túy, buôn bán người, HIV/AIDS.
    • Mô hình Châu Phi (Sudan,...): Mở rộng diện trẻ cần bảo vệ gồm trẻ lao động đường phố, nghiện ngập, kết hôn sớm, bị bỏ rơi.
    • Mô hình Châu Úc (Queensland): Xác định nguy cơ tổn hại về thể chất, tâm lý và cảm xúc của trẻ.
    • Mô hình Đông Nam Á: Lào (trẻ mồ côi, lạm dụng, lao động nguy hiểm), Thái Lan (trẻ lang thang, mồ côi, có người giám hộ không đủ năng lực), Philippines (bảo vệ trẻ khỏi lạm dụng, bóc lột, bỏ bê), Indonesia (chính sách bảo vệ đặc biệt trong hoàn cảnh khẩn cấp, tệ nạn).
  • Hướng nghiên cứu về trẻ em lang thang:
    • Tại Nga, các tác giả Darmodehin S. V., Pudovochkin J. E., Mustaeva F. A., Bakaev A. A., Nechaeva A. M., Slutsky E. G., Rybinsk, V. M. Konstantinov, Rudnev nghiên cứu về tình trạng vô gia cư, thiếu giám sát và hoạt động của các trung tâm phục hồi chức năng xã hội. Tác giả Tatiana Nikolaevna Sidorova (2011) nghiên cứu về trẻ em vô gia cư tại Nga.
    • Tại Trung Đông và Bắc Phi, Tiến sĩ Mehdi Ali khảo sát nhu cầu, nguyện vọng, sức khỏe và lạm dụng chất của trẻ đường phố tại Cairo và Alexandria.
    • Số liệu từ UNICEF (2002) ước tính toàn cầu có từ 100 đến 150 triệu trẻ em đường phố; các báo cáo tại Mỹ (1,6 triệu trẻ bỏ nhà năm 2002), Ấn Độ (11 đến 18 triệu trẻ), Brazil (25.000 đến 31.992 người sống trên đường phố), Romania (khoảng 1.000 trẻ tại Bucharest năm 2000), Ai Cập (1,5 triệu), Bangladesh (400.000).

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu về lý luận nhu cầu: Các tác giả Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy, Lê Khanh, Vũ Dũng, Trần Quốc Thành, Bùi Văn Huệ, Đỗ Long, Lê Đức Phúc, Nguyễn Thạc đã phân tích nhu cầu như một thành tố của xu hướng nhân cách và là nguồn gốc kích thích tính tích cực hoạt động.
  • Nghiên cứu về bảo vệ trẻ em: Dựa trên khung pháp lý quốc tế (Công ước CRC 1989 với 4 nhóm quyền: Sống còn, Phát triển, Bảo vệ, Tham gia) và pháp luật Việt Nam (Hiến pháp 2013, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, Luật Trẻ em 2016).
  • Nghiên cứu về trẻ em lang thang:
    • Vũ Dũng (2012) nghiên cứu về sự thích ứng xã hội của các nhóm yếu thế, trong đó có trẻ em lang thang cơ nhỡ.
    • Văn Thị Kim Cúc và Hoàng Gia Trang nghiên cứu các đặc điểm tâm lý, nhân cách, trạng thái lo âu và trầm cảm của trẻ em lang thang.
    • Đỗ Ngọc Khanh và Bahr Wartinez (2012) khảo sát các khó khăn về thể chất, tâm thần, bạo hành và xâm hại tình dục của trẻ đường phố.
    • Đỗ Ngọc Phương (1995), Nguyễn Thị Hoa nghiên cứu nguyên nhân, hoàn cảnh và trách nhiệm gia đình đối với trẻ em lang thang.
    • Nguyễn Quang Uẩn phân tích các nhu cầu tâm lý của trẻ em lang thang (nhu cầu giao lưu, khẳng định bản thân, yêu thương, an toàn, độc lập).
    • Các khảo sát của Ngô Kim Cúc – Mikel Flamm (1997), Timothy W. Bond (1992), Tổ chức Terre des hommes (2004), Nguyễn Văn Buồm (1996), Dương Kim Hồng (2005) và các bài báo của Quách Thị Quế (2013, 2014, 2015).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận trẻ em lang thang dưới góc độ kinh tế - xã hội, xã hội học, chính sách bảo trợ hoặc mô tả các đặc điểm tâm lý chung (nhân cách, lo âu, thích ứng). Chưa có công trình chuyên biệt nào trong chuyên ngành Tâm lý học làm rõ cấu trúc, mức độ biểu hiện cụ thể của nhu cầu được bảo vệ (gồm 4 thành tố: thân thể, sức khỏe, chống xâm hại tình dục, học tập) và đo lường tác động của các yếu tố chủ quan, khách quan đối với nhu cầu được bảo vệ của nhóm trẻ em này tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Khung lý thuyết tiếp cận:
    • Tiếp cận hoạt động – tâm lý (A. N. Leontiev): Nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang nảy sinh, biến đổi trực tiếp từ các hoạt động mưu sinh thực tế trên đường phố.
    • Tiếp cận hệ thống: Đặt nhu cầu được bảo vệ trong mối quan hệ đa chiều giữa các yếu tố tâm lý cá nhân và các điều kiện môi trường xã hội.
    • Tiếp cận quyền trẻ em: Dựa trên các quy định pháp lý của Công ước CRC và pháp luật Việt Nam.
    • Lý thuyết thang bậc nhu cầu (A. Maslow): Xem xét các nhu cầu từ bậc thấp (sinh lý, an toàn thể chất) đến bậc cao (học tập, hiểu biết xã hội).
  • Các khái niệm công cụ:
    • Trẻ em lang thang: Là những người dưới 16 tuổi, dành phần lớn thời gian trên đường phố, tự kiếm sống và nơi cư trú không ổn định.
    • Nhu cầu: Là sự đòi hỏi của cá nhân về một lĩnh vực cụ thể nào đó mà cá nhân đang thiếu hụt cần được đáp ứng kịp thời; nếu sự thiếu hụt đó không được đáp ứng thì cá nhân sẽ rơi vào trạng thái mất cân bằng hoặc bị gây hại đến thể chất và tinh thần.
    • Nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang: Bao gồm 4 thành phần biểu hiện cụ thể:
      1. Nhu cầu được bảo vệ thân thể (an toàn ăn, mặc, chỗ ở, việc làm an toàn);
      2. Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe (thể chất và sức khỏe tâm thần);
      3. Nhu cầu chống xâm hại tình dục;
      4. Nhu cầu được học tập để biết chữ và có hiểu biết xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu: Phân tích các văn bản luật pháp, chính sách và y văn trong nước, quốc tế.
  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Công cụ thu thập dữ liệu định lượng chính trên mẫu trẻ em lang thang.
  3. Phương pháp quan sát: Ghi nhận hành vi, điều kiện sống và môi trường làm việc thực tế của trẻ trên đường phố.
  4. Phương pháp phỏng vấn sâu: Khai thác thông tin định tính từ trẻ em lang thang và các đối tượng quản lý, hỗ trợ.
  5. Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên môn của các nhà khoa học, cán bộ quản lý bảo vệ trẻ em.
  6. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Đi sâu phân tích hoàn cảnh cụ thể của 3 trẻ em lang thang.
  7. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu, tính điểm trung bình (ĐTB), tỷ lệ %, phân tích tương quan và hồi quy.

Mẫu khảo sát và nguồn dữ liệu

Nhóm khách thể Chi tiết phân loại Số lượng (người)
Khách thể nghiên cứu chính Khảo sát thử 35
(Trẻ em lang thang từ 6 đến <16 tuổi) Khảo sát chính thức 215
Phỏng vấn sâu cá nhân 16 (chọn từ mẫu chính thức)
Nghiên cứu trường hợp điển hình 3 (chọn từ mẫu chính thức)
Khách thể nghiên cứu phụ Cán bộ quản lý BVCSTE 5
Chủ nhà trọ và cán bộ trung tâm 5
Tổng số khách thể tham gia 260

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang

Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhu cầu, bảo vệ trẻ em và trẻ em lang thang trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các trường phái tâm lý học về nhu cầu (Freud, Murray, Leontiev, Maslow, Suttle) và hệ thống hóa các mô hình bảo vệ trẻ em tại các khu vực Châu Âu, Anh, Châu Phi, Châu Úc và Đông Nam Á. Tại Việt Nam, tác giả điểm lại các giai đoạn nghiên cứu trước và sau năm 1975, phân tích các công trình của Vũ Dũng, Văn Thị Kim Cúc, Đỗ Ngọc Khanh, Nguyễn Quang Uẩn, Đỗ Ngọc Phương và khẳng định khoảng trống lý luận về nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm công cụ và khung lý luận cho đề tài:

  • Vấn đề trẻ em lang thang: Làm rõ khái niệm trẻ em lang thang (dưới 16 tuổi, sống và làm việc trên đường phố, nơi cư trú không ổn định). Tổng hợp 5 đặc điểm tâm lý - xã hội của trẻ em lang thang (thiếu thốn điều kiện phát triển, sinh hoạt bấp bênh, sống theo nhóm ở địa bàn phức tạp, lao động nặng nhọc/nguy hiểm, hình thành tâm lý lì lợm/bất cần/khép kín). Phân loại trẻ theo hai hệ thống: quốc tế (trẻ của đường phố, trẻ trên đường phố, trẻ lang thang cùng gia đình) và Việt Nam (3 loại dựa trên mối liên hệ gia đình và nơi cư trú).
  • Vấn đề nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang: Định nghĩa nhu cầu và nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang; xác lập 4 thành phần biểu hiện (bảo vệ thân thể, chăm sóc sức khỏe, chống xâm hại tình dục, học tập biết chữ và hiểu biết xã hội).
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Phân tích nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức, sở thích, tình cảm) và nhóm yếu tố khách quan (gia đình, xã hội).

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Trình bày quy trình tổ chức nghiên cứu gồm hai giai đoạn: nghiên cứu lý luận (tổng thuật tài liệu, xác định khái niệm) và nghiên cứu thực tiễn (từ năm 2011 đến năm 2015). Tác giả mô tả chi tiết quy trình xây dựng, thử nghiệm bảng hỏi (khảo sát thử 35 trẻ), quy trình điều tra chính thức trên 215 trẻ tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, phương pháp chọn mẫu phỏng vấn sâu (16 trẻ, 10 cán bộ/chủ trọ) và tiêu chí lựa chọn 3 trường hợp điển hình.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang ở một số thành phố lớn ở nước ta

Chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm thông qua hệ thống bảng biểu và phân tích tâm lý:

  • Thực trạng nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang: Đánh giá tổng quát mức độ nhu cầu (Biểu đồ 4.1, Bảng 4.1 liên hệ với biến số "trẻ sống với ai"). Phân tích mức độ mong muốn theo từng thành tố cụ thể:
    • Nhu cầu bảo vệ thể chất (Bảng 4.2; Bảng 4.3 về nhu cầu ăn; Bảng 4.4 về nhu cầu mặc; Bảng 4.5 về chỗ ở, sinh hoạt; Bảng 4.7 về việc làm an toàn);
    • Nhu cầu chăm sóc sức khỏe thể chất và tâm thần (Bảng 4.6, Biểu đồ 4.3);
    • Nhu cầu chống xâm hại tình dục (Bảng 4.8, Biểu đồ 4.4);
    • Nhu cầu học tập để biết chữ và có hiểu biết xã hội (Biểu đồ 4.5);
    • Những người trẻ nghĩ đến khi cần được bảo vệ (Bảng 4.9);
    • Mối liên hệ giữa nhu cầu với các biến số nhân khẩu học: giới tính (Bảng 4.14), kinh tế gia đình (Bảng 4.15), tình trạng đi học (Bảng 4.16), mức thu nhập (Bảng 4.13, Bảng 4.17) và nguyện vọng của trẻ (Bảng 4.12).
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng:
    • Đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố bản thân (Bảng 4.18), yếu tố gia đình (Bảng 4.19), yếu tố xã hội (Bảng 4.20).
    • So sánh điểm trung bình chung giữa các yếu tố (Bảng 4.21), qua đó chứng minh yếu tố gia đình có ảnh hưởng lớn nhất đến nhu cầu được bảo vệ của trẻ.
    • Đánh giá mức độ hiểu biết và nhận thức của trẻ về Công ước Quyền trẻ em (Bảng 4.22, Biểu đồ 4.6) và phân tích mối tương quan, ảnh hưởng của nhận thức đến nhu cầu được bảo vệ (Bảng 4.23, Bảng 4.24).
  • Phân tích trường hợp điển hình: Đi sâu nghiên cứu 3 trường hợp trẻ em lang thang cụ thể (tr. 133-143), làm rõ biểu hiện nhu cầu và nguyên nhân dẫn đến hoàn cảnh lang thang.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Luận án làm sáng tỏ nội hàm khái niệm "Nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang" dưới góc độ Tâm lý học chuyên ngành.
  • Xác lập cấu trúc 4 thành phần tạo nên nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang: (1) bảo vệ thân thể, (2) chăm sóc sức khỏe, (3) chống xâm hại tình dục, (4) học tập biết chữ và hiểu biết xã hội.
  • Hệ thống hóa và làm rõ cơ chế tác động của các yếu tố chủ quan (nhận thức, tình cảm, sở thích) và khách quan (gia đình, xã hội) đối với nhu cầu được bảo vệ của trẻ.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về mức độ và biểu hiện nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang tại hai đô thị lớn (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh).
  • Chứng minh bằng số liệu thực nghiệm rằng yếu tố gia đình là yếu tố có mức độ ảnh hưởng nhiều nhất đến nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang.
  • Chỉ ra thực trạng nhận thức về quyền trẻ em của nhóm trẻ lang thang và mức độ tương quan giữa nhận thức với nhu cầu tự bảo vệ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất các căn cứ khoa học giúp các cơ quan quản lý nhà nước hoạch định chiến lược, hoàn thiện chính sách pháp luật về bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
  • Tăng cường các chương trình can thiệp thực tế nhằm giảm thiểu nguy cơ rủi ro cho trẻ trên đường phố; đẩy mạnh giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ tự bảo vệ bản thân.
  • Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục gia đình, hỗ trợ các gia đình khó khăn thực hiện tốt chức năng nuôi dưỡng và chăm sóc con cái, nhằm phòng ngừa tình trạng trẻ em bỏ nhà đi lang thang.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Khách thể nghiên cứu tập trung vào nhóm trẻ em lang thang kiếm sống thuần túy trên đường phố (độ tuổi từ 6 đến dưới 16 tuổi, không sống cùng gia đình và không ở trung tâm bảo trợ), chưa bao quát toàn bộ các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác. Dữ liệu phản ánh giai đoạn nghiên cứu từ năm 2011 đến 2015.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn nghiên cứu sang các đô thị loại hai, khu vực biên giới hoặc các địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh; khảo sát sâu hơn các mô hình can thiệp tâm lý dựa vào cộng đồng và đánh giá tác động của Luật Trẻ em năm 2016 đối với việc đáp ứng nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu trong các chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành, Tâm lý học phát triển, Tâm lý học xã hội và Công tác xã hội; đặc biệt hữu ích ở phần tổng quan lý luận về nhu cầu và khung phương pháp luận tiếp cận nhóm khách thể yếu thế.
  • Đối với nhà hoạch định chính sách và cán bộ thực thi: Các dữ liệu thực tiễn tại Chương 4 cung cấp căn cứ xác đáng cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em, các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc xây dựng chính sách an sinh, thiết kế các chương trình trợ giúp xã hội và can thiệp bảo vệ trẻ em đường phố.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định trẻ em lang thang gồm những biểu hiện nhu cầu được bảo vệ cụ thể nào?

Luận án xác định nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang cấu thành từ 4 biểu hiện cụ thể:

  1. Nhu cầu được bảo vệ thân thể (điều kiện ăn, mặc, chỗ ở, việc làm an toàn);
  2. Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe (chăm sóc thể chất và sức khỏe tâm thần);
  3. Nhu cầu chống xâm hại tình dục;
  4. Nhu cầu được học tập để biết chữ và có hiểu biết xã hội.

2. Quy mô mẫu khảo sát thực tiễn của luận án được phân bổ như thế nào?

Tổng số khách thể tham gia nghiên cứu là 260 người, gồm:

  • 250 trẻ em lang thang (35 trẻ khảo sát thử, 215 trẻ khảo sát chính thức, 16 trẻ phỏng vấn sâu cá nhân và 3 trẻ nghiên cứu trường hợp điển hình);
  • 10 khách thể phụ (5 cán bộ làm công tác quản lý bảo vệ chăm sóc trẻ em và 5 chủ nhà trọ/cán bộ trung tâm).

3. Kết quả thực nghiệm xác định yếu tố nào có ảnh hưởng lớn nhất đến nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang?

Kết quả so sánh điểm trung bình chung giữa các nhóm yếu tố (Bảng 4.21) chỉ ra rằng yếu tố gia đình là yếu tố có mức độ ảnh hưởng nhiều nhất đến nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang, vượt trên các yếu tố thuộc về bản thân trẻ và yếu tố xã hội.

4. Tác giả sử dụng khung lý thuyết nào để giải thích cơ chế hình thành nhu cầu của trẻ em lang thang?

Luận án chủ yếu vận dụng lý thuyết hoạt động tâm lý của A. N. Leontiev (mối liên hệ Hoạt động $\rightarrow$ Nhu cầu $\rightarrow$ Hoạt động) để khẳng định nhu cầu bảo vệ nảy sinh trực tiếp từ quá trình mưu sinh thực tế trên đường phố, kết hợp với thuyết thang bậc nhu cầu của A. Maslow để phân tích mức độ cấp thiết từ nhu cầu sinh tồn đến nhu cầu phát triển nhận thức.


Kết luận

Luận án của tác giả Quách Thị Quế đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về nhu cầu được bảo vệ của trẻ em lang thang tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Bằng việc kết hợp phương pháp luận hoạt động - tâm lý với hệ thống phương pháp điều tra thực nghiệm chặt chẽ trên 260 khách thể, công trình đã làm sáng tỏ 4 thành phần biểu hiện của nhu cầu được bảo vệ và chứng minh vai trò quyết định của yếu tố gia đình. Những kết quả nghiên cứu này cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho công tác hoạch định chính sách và triển khai các giải pháp bảo vệ, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam.