phần Mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án g m 4 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận của dạy học Tâm lí học du lịch ở đại học hƣớng vào phát triển năng lực tự học của sinh viên Chƣơng 2. Thực trạng dạy học Tâm lí học du lịch hƣớng vào phát triển năng lực tự học của sinh viên ở một số trƣờng đại học Chƣơng 3. Các iện pháp dạy học Tâm lí học du lịch ở đại học hƣớng vào phát triển năng lực tự học của sinh viên Chƣơng 4.
Thực nghiệm khoa học 9 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC TÂM LÍ HỌC DU LỊCH Ở ĐẠI HỌC HƢỚNG VÀO PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về tự học và phát triển năng lực tự học Những vấn đề tƣ tƣởng và lí luận cơ ản về tự học và NLTH đƣợc nghiên cứu từ lâu trong các công trình của thế giới và Việt Nam.
Thuật ngữ quốc tế phổ biến dùng để chỉ khái niệm tự học và NLTH là Independent Learning (học độc lập), Self-regulated Learning (học tự điều chỉnh), và đôi khi cả Self-directed Learning (học tự chỉ đạo), Self-managed Learning (học tự quản lí). Cội ngu n triết lí của tự học xuất phát từ các công trình của J. Maslow [130] trong Lí thuyết nhu cầu ngƣời. Đến nay tự học trở thành phạm trù trung tâm của học tập phi chính qui (Informal Learning), xã hội học tập (Learning Society), giáo dục từ xa (Distance Education), giáo dục ngƣời lớn (Adult Education) và học tập suốt đời (Life-long Learning)., Harris, Bruce (1992), Schunk D.
(1990) [141], (2001) [152], (1989) [141] nghiên cứu đặc điểm của tự học ở những sinh viên giỏi và tƣơng quan của chúng với thành tích học tập. (2001) [115] nhấn mạnh tính độc lập của tự học, đặc trƣng của ngƣời tự học (Independent Learner) và khẳng định tính độc lập là nổi bật. Nghiên cứu cũng chỉ rõ nhiều học sinh phổ thông còn thiếu những hiểu iết về tự học, các kĩ năng học tập cơ ản. Madalena Mo ching Mok, Cheng, Yin Cheong (2001) [66] đã giải thích sâu sắc về hiện tƣợng tự học, đƣa ra các điều kiện thuận lợi để SV đƣợc trải nghiệm, trở nên năng động hơn.
Quá trình tự học đƣợc diễn ra thuận lợi hơn ằng việc khai thác, s dụng 10 mạng internet và công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy học, xây dựng môi trƣờng học tập mở, xem đây là những yếu tố quan trọng trong lí thuyết tự học mà các ông đề xuất. Ý nghĩa rút ra từ lí thuyết có thể góp phần chuyển đổi mô hình giáo dục trong cải cách giáo dục hiện nay trên toàn thế giới. Những tƣ tƣởng về tự học của con ngƣời trong thế kỉ XXI đã đƣợc các ông áo cáo từ năm 2000 tại hội nghị châu Âu về nghiên cứu giáo dục (ECER 20.001 tổ chức ngày 20-23 tháng 9 năm 2000, tại Edinburgh, Scotland). Trong đó nhấn mạnh đến sự thay đổi mô hình học tập, để thanh thiếu niên học tập suốt đời, nhƣ: chuyển từ mô hình dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm; từ giới hạn kiến thức trong sách giáo khoa đến các ngu n học liệu ao g m kinh nghiệm cộng đ ng, học tập dựa trên We , phần mềm, mạng và hệ thống e-learning.
Một số nghiên cứu khác của ates, I. (2003) [120] đã chỉ ra ảnh hƣởng của môi trƣờng gia đình trong giáo dục năng lực tự học của học sinh. (1990) [123],Virginia Smith Harvey, Louis A. Chickie-Wolfe (2007) [144], Winne, P.
(2002) [123] nghiên cứu những vấn đề mục đích, động cơ, nhu cầu của ngƣời tự học, các chiến lƣợc phát triển NLTH và phƣơng pháp đo lƣờng, đánh giá NLTH từ quan điểm nhận thức xã hội, văn hóa. Ở Việt Nam, chủ tịch H Chí Minh đã có những ý kiến rất quí áu về vấn đề tự học và cách tự học. Khi chỉ thị về cách học tập Ngƣời viết “Lấy tự học làm cốt, có thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [123]. Ngƣời đã nêu ra một nguyên tắc trong tự học là học đến đâu, luyện tập và thực hành đến đó.
Có thể 11 nói tự học là một tƣ tƣởng lớn của Chủ tịch H Chí Minh về cách học, những lời chỉ dẫn quí áu và kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gƣơng tự học ền ỉ và thành công của Ngƣời cho đến nay vẫn mang giá trị to lớn. Trong giai đoạn những năm 60 tƣ tƣởng tự đào tạo đã đƣợc áp dụng tại trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội [dẫn theo [123] với phong cách giảng dạy và học tập mới mà cốt lõi là khẩu hiệu iến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Tiếp đến là các ài viết đăng trên các tạp chí giáo dục của Nguyễn Kỳ [123]; Trần H ng Quân [123]; Phạm Minh Hạc [123] đề cập đến vai trò, tầm quan trọng của tự học, coi tự học trở thành một n t văn hóa đẹp trong nhân cách của mỗi con ngƣời và của toàn thể cộng đ ng. Đến năm 1998, vấn đề tự học đƣợc nâng lên một tầm cao mới và là một trong những vấn đề trọng tâm của giáo dục và thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và mọi ngƣời dân trong xã hội.
Cũng vào năm này, hội thảo “Nghiên cứu và phát triển tự học, tự đào tạo” đã đƣợc tổ chức tại Hà Nội. Sau đó Tạp chí giáo dục số 2/1998 đã ra một số áo đặc iệt đăng tải một số ài tiêu iểu trong hội thảo, nhƣ ài: “Vấn đề tự học - tự đào tạo” (trích thƣ g i hội thảo nghiên cứu khoa học của Tổng í thƣ Đỗ Mƣời; “Tự học - một chìa khóa vàng” của Phan Trọng Luận; “Vì năng lực tự học sáng tạo của ngƣời học sinh” của Nguyễn Nghĩa ân. Đặc iệt trong khoảng 10 năm trở lại đây vấn đề tự học, năng lực tự học đã đƣợc nhiều luận án, luận văn, chuyên khảo, ài áo đã tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống và hƣớng vào giải quyết các vấn đề sau: Xác định khái niệm tự học, những nguyên tắc bản chất của tự học, kinh nghiệm r n luyện NLTH, vai trò của tự học trong phát triển cá nhân và xã hội, những khía cạnh lí luận về tự học, những điều kiện của việc tự học và nhấn mạnh tự học nhƣ một năng lực có nền tảng sinh học, tâm lí và xã hội. Những nội dung này đƣợc thể hiện trong các nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Toàn [9], 12 [94], [96], Nguyễn Kỳ, ùi Tƣờng, Vũ Văn Tảo [95], Đặng Thành Hƣng (1999) [49], [51], [52], [55].
àn về vấn đề phát triển NLTH trong dạy học một số môn học ở trƣờng phổ thông và trƣờng đại học, nhƣ: các nghiên cứu phát triển NLTH trong dạy học môn Toán ở các trƣờng đại học sƣ phạm [5], [13], [37], [64], [88], [89], [90], [102] đã đề cập đến việc tự học Đại số và chƣơng trình Toán ở đại học sƣ phạm tiểu học, nghiên cứu việc tự học Phƣơng pháp dạy học Toán ở đại học sƣ phạm, đề xuất các iện pháp phát triển NLTH môn Toán chủ yếu dựa vào phát huy tính chủ động tƣ duy, phát hiện và giải quyết vấn đề của ngƣời học. Rèn luyện KNHT theo hƣớng phát triển NLTH, tự nghiên cứu cho sinh viên ngành Hóa ở đại học [21], [26], [106], [41], [92] đã mô tả cách thiết kế, tổ chức lại nội dung học tập, s dụng kết hợp các phƣơng pháp và phƣơng tiện kĩ thuật dạy học, dựa vào đánh giá theo lí thuyết kiến tạo để phát triển NLTH Hóa học ở phổ thông. Trong dạy học Vật Lí có các nghiên cứu [1], [24], [35], [61], [100] liên quan đến đề xuất các kĩ năng tự học, s dụng các ài tập, s dụng we site, s dụng tài liệu chuyên iệt để phát triển NLTH cho học sinh. Trong dạy học các môn khác cũng có một số nghiên cứu về phát triển NLTH.
Đó là những công trình về dạy học Sinh học, Địa lí [39]. Đặc biệt vấn đề phát triển NLTH của SV đƣợc quan tâm nhiều trong dạy học Giáo dục học ở trƣờng sƣ phạm [19], [38], [69], [93], thông qua hoạt động thực hành, thực tập sƣ phạm; s dụng e-learning để hỗ trợ SV tự học và phát triển NLTH; dạy SV kĩ năng tự học Giáo dục học; xem xét tự học từ góc độ quản lí dạy học, đề xuất các biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học qua seminer và bài tập Giáo dục học. Những nghiên cứu trong n c và ngoài n c n u tr n v t học và phát triển năng l c t học cập và giải quy t c các v n : 13 - S dụng các phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học bộ môn nhƣ seminer, bài tập, thực hành, đọc hiểu văn ản giáo khoa, v. để rèn luyện KNHT làm nền tảng cho tự học của HS và SV.
- Áp dụng và khai thác những ƣu thế của CNTT, e-learning và internet để hỗ trợ tự học, khuyến khích nhu cầu và nâng cao NLTH. - S dụng những chiến lƣợc dạy học tích cực hóa ngƣời học nhƣ dạy học hợp tác, dạy học tìm tòi v. và những thiết kế tài liệu học tập, đánh giá để khuyến khích hứng thú học tập của ngƣời học. hững v n ch a c cập nghi n cứu: - Nhiều nghiên cứu bàn về việc hình thành năng lực tự học các môn học cho học sinh phổ thông, nhƣng việc xây dựng nội dung của năng lực tự học các môn học này chƣa xác định rõ, mà chỉ àn đến những biểu hiện của năng lực tự học trong quá trình học các môn học đó.
- Tiêu chí để đo và đánh giá mức độ hình thành năng lực tự học là rất cần thiết trong quá trình giáo dục, hình thành năng lực tự học. Nhƣng vấn đề này cho đến nay cũng chƣa đƣợc xác định rõ trong các nghiên cứu về tự học. - Chƣa có công trình nào giải quyết vấn đề NLTH một cách trọn vẹn về mặt quan niệm, hầu hết nói đến các KNHT tích cực. Hơn nữa càng chƣa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này trong dạy học Tâm lí học nói chung và Tâm lí học du lịch nói riêng.
Những nghiên cứu về dạy học Tâm lí học du lịch hướng v o phát triển năng lực tự học Những nghiên cứu về TLHDL và quản lí du lịch nói chung rất phong phú [127], [22], [23], [20], [114], nhƣng vấn đề dạy học TLHDL còn ít đƣợc quan tâm xem xét, không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới.