Giáo trình Lí luận Văn học - Lê Lưu Oanh, Phạm Đăng Dư - Đại học Sư phạm Hà Nội

Khám phá lý luận văn học của Lê Lưu Oanh và Phạm Đăng Dư. Phân tích các khái niệm, phương pháp luận và đóng góp quan trọng trong lĩnh vực lý luận văn học.

Chuyên ngành

Giáo dục Tiểu học

Tác giả

Lê Lưu Oanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2008

209
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình Lý luận Văn học Lê Lưu Oanh Phạm Đăng Dư

Giáo trình Lý luận Văn học của Lê Lưu Oanh và Phạm Đăng Dư là tài liệu đào tạo chính quy dành cho ngành cử nhân giáo dục tiểu học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Giáo trình được biên soạn dựa trên cơ sở những giáo trình Lý luận Văn học do GS. Phương Lựu và GS. Trần Đình Sử làm chủ biên. Tác phẩm được Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội phát hành năm 2008, phục vụ cho hệ đào tạo chính quy, tại chức và từ xa. Giáo trình gồm bốn phần chính: Bản chất thẩm mĩ của văn học, Bản chất xã hội của văn học, Loại thể văn học và các vấn đề liên quan. Mỗi phần bao gồm nhiều chương với nội dung lý thuyết, hướng dẫn học tập và hệ thống bài tập thực hành. Mục tiêu giúp sinh viên nắm vững kiến thức cơ bản về lý luận văn học, từ đó vận dụng vào giảng dạy môn Văn học ở bậc tiểu học một cách hiệu quả.

1.1. Bối cảnh biên soạn giáo trình

Việc biên soạn giáo trình Lý luận Văn học xuất phát từ yêu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên tiểu học có trình độ cử nhân Đại học Sư phạm ngày càng cao. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhận thấy vai trò quan trọng của bộ môn Lý luận Văn học trong chương trình đào tạo. Nhóm biên soạn gồm Lê Lưu Oanh và Phạm Đăng Dư đã dựa trên nền tảng giáo trình của GS. Phương Lựu và GS. Trần Đình Sử để xây dựng nội dung phù hợp với đối tượng sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học. Quá trình biên soạn chú trọng tính hệ thống và khả năng tiếp cận của người học.

1.2. Đối tượng và phạm vi sử dụng

Giáo trình Lý luận Văn học Lê Lưu Oanh Phạm Đăng Dư phục vụ đa dạng đối tượng người học. Đó là sinh viên hệ chính quy tại khoa Giáo dục Tiểu học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bên cạnh đó, giáo trình còn dành cho học viên là giáo viên tiểu học theo học hệ đào tạo tại chức, từ xa và chuyên tu. Phạm vi nội dung bao trùm những kiến thức cơ bản nhất về lý luận văn học, từ bản chất thẩm mĩ đến các loại thể văn học. Người học có thể sử dụng giáo trình làm tài liệu tham khảo lâu dài trong quá trình giảng dạy.

II. Phân tích nội dung cốt lõi giáo trình Lê Lưu Oanh Phạm Đăng Dư

Nội dung giáo trình Lý luận Văn học Lê Lưu Oanh Phạm Đăng Dư được cấu trúc thành bốn phần lớn. Phần đầu tiên trình bày bản chất thẩm mĩ của văn học, bao gồm đặc trưng đối tượng, hình tượng văn học và tính đa chức năng. Phần hai phân tích bản chất xã hội của văn học. Phần ba giới thiệu các loại thể văn học. Phần bốn đề cập đến những vấn đề khác liên quan. Hình tượng văn học được xem xét với các thuộc tính cơ bản như tính toàn vẹn, tính cảm tính và tính biểu cảm. Giáo trình nhấn mạnh vai trò của ngôn từ như chất liệu đặc thù tạo nên nghệ thuật văn học. Thời gian và không gian trong văn học được phân tích dưới nhiều góc độ: thời gian vật lí, thời gian tâm lí, không gian hiện thực và không gian tinh thần. Các phạm trù cái bi, cái hài cũng được trình bày hệ thống với nhiều ví dụ từ tác phẩm kinh điển Việt Nam và thế giới.

2.1. Hình tượng văn học và ngôn từ nghệ thuật

Giáo trình phân tích hình tượng văn học với những thuộc tính quan trọng như tính toàn vẹn, tính cảm tính, tính biểu cảm và tính cá thể hóa. Hình tượng văn học được xây dựng bằng ngôn từ - chất liệu đặc thù của nghệ thuật ngôn ngữ. Ngôn từ trong văn học có khả năng biểu hiện đời sống nội tâm sâu sắc của con người. Giáo trình chỉ ra rằng hình tượng văn học có thể đồng hiện nhiều thời gian khác nhau: thời gian vật lí tuần tự theo mùa, thời gian tâm lí tùy thuộc trạng thái tâm hồn nhân vật. Không gian văn học cũng mang tính đặc thù, vừa là môi trường tồn tại vừa xác định chiều kích tâm hồn con người.

2.2. Các phạm trù thẩm mĩ trong giáo trình

Giáo trình trình bày các phạm trù thẩm mĩ cơ bản như cái bi và cái hài. Cái bi được chia thành hai loại: cái bi lịch sử mang tính cao cả và cái bi đời thường. Cái bi lịch sử phản ánh giá trị thẩm mĩ của những con người đấu tranh cho mục đích lớn lao của xã hội, như số phận Từ Hải trong Truyện Kiều. Cái bi đời thường gắn với cuộc sống cá nhân, như số phận Thúy Kiều, Anna Karênina hay lão Gôriô. Giáo trình cũng đề cập những bi kịch gắn liền với biến động lịch sử Việt Nam qua các tác phẩm văn học hiện đại. Các phạm trù này được minh họa bằng nhiều tác phẩm kinh điển.

III. Phương pháp tiếp cận giáo trình Lý luận Văn học hiệu quả

Giáo trình Lý luận Văn học Lê Lưu Oanh Phạm Đăng Dư được thiết kế với phương pháp tiếp cận khoa học và hệ thống. Mỗi chương ngoài phần nội dung lý thuyết còn có mục Hướng dẫn học tập giúp sinh viên nắm vững kiến thức cơ bản. Hệ thống câu hỏi và bài tập thực hành được bố trí cuối mỗi chương để người học vận dụng lý thuyết vào phân tích tác phẩm. Phương pháp học tập hiệu quả yêu cầu sinh viên đọc kỹ lý thuyết trước, sau đó thực hành phân tích các ví dụ trong giáo trình. Việc liên hệ với các tác phẩm văn học quen thuộc giúp hiểu sâu hơn các khái niệm trừu tượng. Người học nên xây dựng sơ đồ tư duy cho từng chương để hệ thống hóa kiến thức. Quá trình học cần tuân thủ quy trình: đọc hiểu lý thuyết, ghi chép tóm tắt, thực hành bài tập và thảo luận nhóm để đạt kết quả tốt nhất.

3.1. Quy trình học tập theo giáo trình

Nhóm biên soạn Lê Lưu Oanh và Phạm Đăng Dư khuyến nghị quy trình học tập cụ thể cho từng chương. Bước đầu tiên là đọc kỹ nội dung lý thuyết, ghi chú những khái niệm quan trọng. Tiếp theo, sinh viên tham khảo phần Hướng dẫn học tập để xác định trọng tâm kiến thức. Bước ba là thực hành hệ thống câu hỏi và bài tập được thiết kế trong giáo trình. Cuối cùng, người học thảo luận nhóm để mở rộng hiểu biết. Quy trình này đảm bảo việc tiếp thu kiến thức từ cơ bản đến nâng cao. Sinh viên thực hiện nghiêm túc quy trình sẽ đạt kết quả học tập tốt.

3.2. Liên hệ thực tiễn giảng dạy tiểu học

Giáo trình Lý luận Văn học không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn hướng đến ứng dụng thực tiễn giảng dạy. Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học cần biết cách vận dụng các khái niệm lý luận văn học vào dạy học môn Tiếng Việt và Tập đọc ở bậc tiểu học. Việc hiểu bản chất thẩm mĩ của văn học giúp giáo viên hướng dẫn học sinh cảm nhận vẻ đẹp của tác phẩm. Kiến thức về hình tượng, ngôn từ nghệ thuật hỗ trợ giáo viên phân tích câu chuyện, bài thơ đơn giản cho trẻ. Đây là mục tiêu cốt lõi mà giáo trình hướng đến.

IV. Kết luận và giá trị giáo trình Lý luận Văn học Lê Lưu Oanh

Giáo trình Lý luận Văn học của Lê Lưu Oanh và Phạm Đăng Dư đóng vai trò quan trọng trong đào tạo giáo viên tiểu học tại Việt Nam. Tác phẩm hệ thống hóa kiến thức lý luận văn học một cách khoa học, từ bản chất thẩm mĩ đến các loại thể văn học. Nội dung giáo trình được xây dựng phù hợp với trình độ và nhu cầu của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học. Giá trị nổi bật của giáo trình nằm ở tính thực tiễn cao, mỗi phần lý thuyết đều đi kèm hướng dẫn học tập và bài tập thực hành. Giáo trình kế thừa truyền thống nghiên cứu văn học Việt Nam từ các giáo trình của GS. Phương Lựu và GS. Trần Đình Sử. Tuy nhiên, nhóm biên soạn cũng thẳng thắn thừa nhận những hạn chế và mong muốn nhận được đóng góp từ đồng nghiệp và sinh viên. Giáo trình vẫn là tài liệu tham khảo quý giá cho những ai nghiên cứu và giảng dạy lý luận văn học ở bậc phổ thông.

4.1. Đóng góp của giáo trình cho đào tạo sư phạm

Giáo trình Lý luận Văn học Lê Lưu Oanh Phạm Đăng Dư đã lấp đầy khoảng trống tài liệu đào tạo cho ngành cử nhân giáo dục tiểu học. Trước khi giáo trình ra đời, sinh viên sư phạm tiểu học thiếu tài liệu lý luận văn học phù hợp với chuyên ngành. Giáo trình cung cấp nền tảng kiến thức vững chắc giúp giáo viên tương lai hiểu sâu về bản chất văn học. Điều này trực tiếp nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn ở bậc tiểu học. Đóng góp này có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển giáo dục Việt Nam.

4.2. Hướng phát triển và bổ sung nội dung

Giáo trình được xuất bản năm 2008, do đó cần được cập nhật để phù hợp với xu hướng nghiên cứu mới. Các lý luận văn học hiện đại như lý thuyết tiếp nhận, phân tích diễn ngôn có thể bổ sung vào nội dung. Việc tích hợp thêm ví dụ từ văn học đương đại Việt Nam sẽ giúp sinh viên dễ liên hệ thực tiễn hơn. Ngoài ra, cần bổ sung thêm phần hướng dẫn sử dụng công nghệ trong dạy học lý luận văn học. Các bản sửa đổi tương lai nên tham khảo ý kiến giảng viên và sinh viên để hoàn thiện nội dung giáo trình một cách toàn diện nhất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Văn học - hình thái ý thức thẩm mĩ Đăng kí http://thichhocchui.xyz/ tại Zalo 0383572270 Thích Học Chui Văn học là một hình thái ý thức xã hội, bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm, một cách nhìn, một tình cảm đối với đời sống. Nhưng văn học nói riêng cũng như nghệ thuật nói chung, không giống các hình thái ý thức xã hội khác bởi có những đặc thù riêng mang tính thẩm mĩ về đối tượng, nội dung và phương thức thể hiện.1 Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học 1.1 Đối tượng của văn học Nội dung là yếu tố đầu tiên quy định sự khác nhau của văn học so với các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, tôn giáo, lịch sử, địa lí, sinh học. Nội dung, trước hết là cái được nhận thức, chiếm lĩnh từ đối tượng. Vậy đối tượng của văn học là gì? Mĩ học duy tâm khách quan từ thời Platông đến Hêghen đều cho rằng đối tượng của nghệ thuật chính là biểu hiện của thế giới thần linh, của những linh cảm thần thánh, của ý niệm tuyệt đối - một thế giới sản sinh trước loài người.

Nghĩa là, mọi đối tượng của nghệ thuật cũng như của văn học đều là thế giới của thần linh, của những điều huyền bí, cao cả. Văn học nghệ thuật suy cho cùng là sự hồi tưởng và miêu tả thế giới ấy, một thế giới không thuộc phạm vi đời sống hiện thực. Quan điểm này đã đề cao và thần thánh hóa đối tượng của văn học nghệ thuật. Cho nên không lạ gì khi chúng ta bắt gặp hầu hết đối tượng phản ánh của văn học, nghệ thuật thời cổ chính là các câu chuyện về các vị thần linh: từ người khổng lồ Khoa Phụ đuổi bắt mặt trời, Nữ Oa vá trời trong thần thoại Trung Quốc, đến các vị thần trên đỉnh Olempơ và con cháu của của các vị thần đó như Hécquyn, Asin trong văn học Hi Lạp cổ đại, rồi Thánh Gióng, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Lạc Long Quân và Âu Cơ của người Việt.com/groups/TruongHocChui 1.

Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học Mĩ học duy tâm chủ quan lại cho rằng, đối tượng nghệ thuật chính là những cảm giác chủ quan, là cái tôi bề sâu trong bản chất con người của nghệ sĩ, không liên quan gì đến đời sống hiện thực. Đây là một quan điểm đầy mâu thuẫn, bởi mọi cảm giác của con người bao giờ cũng chính là sự phản ánh của thế giới hiện thực. Còn các nhà mĩ học duy vật từ xưa đến nay đều khẳng định, đối tượng của nghệ thuật chính là toàn bộ đời sống hiện thực khách quan. Tsécnưsépxki đã nói: Phạm vi của nghệ thuật gồm tất cả những gì có trong hiện thực (trong thiên nhiên và trong xã hội) làm cho con người quan tâm1.

Quan điểm này đã đưa đối tượng của nghệ thuật về gần gũi với hiện thực đời sống. Thực ra, từ thời xa xưa, con người đã biết văn học nghệ thuật bắt nguồn từ đời sống. Đăng kí http://thichhocchui.xyz/ tại Zalo 0383572270 Thích Học Chui Ở Trung Quốc, thuyết cảm vật đã chỉ rõ: mùa xuân, mùa thu, các mùa thay thế nhau, làm cảnh vật biến đổi, tâm hồn cũng thay đổi theo. Còn theo các thuyết thi ngôn chí, thi duyên tình: văn chương tạo nên do con người có cảnh ngộ trong lòng mình muốn bộc lộ, mà cảnh ngộ đó cũng là do tác động của đời sống tạo nên.

Như vậy, có thể nói, đối tượng của văn học, nghệ thuật là toàn bộ đời sống xã hội và tự nhiên. Tsécnưsépxki từng nói: “Cái đẹp là cuộc sống” vì lí do đó. Nhưng phạm vi này vô cùng rộng. Bởi lẽ, nếu nói đối tượng của văn học là đời sống thì chưa tách biệt với đối tượng của các ngành khoa học và các hình thái ý thức xã hội khác như lịch sử, địa lí, hóa học, y học, chính trị, đạo đức.

Văn học phải có cách nhận thức và thể hiện đối tượng khác biệt. Nếu như đối tượng của triết học là những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; đối tượng của lịch sử là các sự kiện lịch sử, sự thay thế nhau của các chế độ; đối tượng của đạo đức học là các chuẩn mực đạo đức trong mối quan hệ người với người. thì đối tượng của văn học là toàn bộ đời sống hiện thực, nhưng chỉ là hiện thực có ý nghĩa đối với đời sống tâm hồn, tình cảm con người. Tức là, dù văn học có miêu tả thế giới bên ngoài như thiên nhiên, lịch sử, chiến tranh, hòa bình., văn học cũng chỉ chú ý tới quan hệ của chúng đối với con người.

Văn học, nghệ thuật nhìn thấy trong các hiện tượng đời sống những ý nghĩa “quan hệ người kết tinh trong sự vật” 2. Thế giới khách quan trong văn học là thế giới được kết cấu trong các mối liên hệ với con người. Người ta gặp tất cả các hình thức đời sống trong văn học, từ những hiện tượng tự nhiên “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”, tiếng sấm rền vang, giọt mưa rơi tí tách, tiếng sóng ào ạt xô bờ, một tiếng chim ban mai đến những biến cố lịch sử lớn lao. Nhưng cái văn học chú ý là kết quả, ý nghĩa của tất cả những hiện tượng đời sống đó đối với con người.

Văn học không nhìn thiên nhiên như một nhà sinh học, một nhà khí tượng học, mà thấy ở đó tâm trạng, số phận, vận mệnh con người: tiếng chim ban mai là âm thanh của niềm vui sống, đám mây trắng vô tận là hình ảnh của sự hư vô, cái hư ảo, phù du của kiếp người. Ngay cả các hiện tượng lịch sử cũng được văn học nhìn nhận dưới góc độ khác biệt. Sau những những biến cố dữ dội của cách mạng Nga tháng Hai và tháng Mười năm 1917, Rôtsin đã nói với Katia: “Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, cách mạng sẽ thôi gào thét, chỉ còn tấm lòng em dịu dàng ngàn đời bất diệt” (Con đường đau khổ - A. Khi nhìn thấy ngôi sao chổi trên bầu trời Matxcơva năm 1812, trong lòng Pie Bêdukhốp tràn ngập những tình cảm cao thượng và mới mẻ (Chiến tranh và hòa bình - L.

Điều văn học quan 1 Tsécnưsépki. Quan hệ thẩm mĩ của nghệ thuật đối với hiện thực, tập 2, Nxb Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, Matxcơva, 1949, trang 64 (tiếng Nga). Theo Phương Lựu, Trần Đình Sử. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004, trang 124 2 Theo Phương Lựu, Trần Đình Sử.

Lí luận văn học (sách đã dẫn), trang 125 9 https://www.com/groups/TruongHocChui 1. Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học tâm là tác động của những biến cố lịch sử, của tự nhiên, của thế giới xung quanh tới tâm hồn con người chứ không phải bản thân những biến cố ấy. Như vậy, đối tượng của văn học là hiện thực mang ý nghĩa người. Văn học không miêu tả thế giới trong ý nghĩa chung nhất của sự vật.

Điều mà văn học chú ý chính là một “quan hệ người kết tinh trong sự vật”: dòng sông là nơi lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ, đầm sen là nơi gặp gỡ, giao duyên, con đê làng là ranh giới của hồn quê và văn minh thị thành. Đó chính là những giá trị nhân sinh thể hiện trong sự vật. Có thể nói, đối tượng của văn học nói riêng, nghệ thuật nói chung, là toàn bộ thế giới hiện thực có ý nghĩa đối với sự sống con người, mang tư tưởng, tình cảm, khát vọng của con người. “Nghệ thuật được tác thành bởi con người.

Nó là sự biểu đạt của con người trước thế giới tự nhiên và đời sống” (Bách khoa Đăng kí http://thichhocchui.xyz/ tại Zalo 0383572270 Thích Học Chui toàn thư Comtorp’s). Trong toàn bộ thế giới hiện thực đó, con người với toàn bộ các quan hệ của nó là đối tượng trung tâm của văn học. Toàn bộ thế giới khi được tái hiện trong tác phẩm đều được tái hiện dưới con mắt một con người cụ thể. Đó có thể là người kể chuyện, là nhân vật hoặc nhân vật trữ tình.

Con người trong văn học trở thành những trung tâm giá trị, trung tâm đánh giá, trung tâm kết tinh các kinh nghiệm quan hệ giữa con người và thế giới. Khi lấy con người làm hệ quy chiếu, làm trung tâm miêu tả, văn học có một điểm tựa nhìn ra thế giới, bởi văn học nhìn thế giới qua lăng kính của những con người có cá tính riêng. Do đó, miêu tả con người là phương thức miêu tả toàn thế giới3. Văn học không miêu tả con người như một nhà triết học, chính trị học, đạo đức học, y học, giải phẫu học., mà thấy đó là con người có lịch sử cá nhân, có tính cách, có tình cảm, có số phận với những quan hệ cụ thể, cá biệt.

Khi nhà thơ Tố Hữu viết về Bác Hồ: Cha đã đi đày đau nỗi riêng, Còn nghe dưới gót nặng dây xiềng, Mẹ nằm dưới đất hay chăng hỡi, Xin sáng lòng con ngọn lửa thiêng (Theo chân Bác) ta thấy hiện lên hình ảnh Bác Hồ không phải như một nhà chính trị trừu tượng mà là một con người có tâm hồn, tình cảm và số phận riêng. Con người trong văn học còn tiêu biểu cho những quan hệ xã hội nhất định, vì vậy, con người được miêu tả vừa như những kiểu quan hệ xã hội kết tinh trong những tính cách (tham lam, keo kiệt, hiền lành, trung hậu.), vừa cả thế giới tâm hồn, tư tưởng của chính họ. Có thể nói, toàn bộ lịch sử văn học của nhân loại chính là lịch sử tâm hồn con người. Vì thế, con người trong văn học không giống với con người là đối tượng của các ngành khoa học khác như lịch sử, đạo đức, sinh học, y học.

Điều đó khẳng định tính không thể thiếu được của văn học trong lịch sử ý thức nhân loại. Bên cạnh con người là đối tượng chính, văn học còn hướng tới đời sống trong toàn bộ tính phong phú và muôn vẻ của các biểu hiện thẩm mĩ của nó. Đó là toàn bộ đời sống trong tính cụ thể, sinh động, toàn vẹn, với mọi âm thanh, màu sắc, mùi vị. vô cùng sinh động và gợi cảm.

Văn học cũng như nghệ thuật luôn hướng tới cái đẹp của đời sống, đặc biệt là cái đẹp về hình thức của sự vật: ánh chiều tà đỏ ối, một lá ngô đồng rụng, giọt sương mai long lanh. Nhưng tất cả cái đẹp này của cuộc sống cũng đều được tái hiện dưới con mắt của một con người cụ thể với những kinh nghiệm, ấn tượng và sự tinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ