Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu Trong đời sống hàng ngày, GT và nhu cầu được GT đóng vai trò hết sức quan trong trong các HĐ sống của con người. Để mỗi người có được sự phát triển toàn diện về nhân cách, về tâm lý, về ý thức thì không thể không có sự GT trong đó đặc biệt là giao tiếp ngôn ngữ (GTNN). Với trẻ lứa tuổi MN, thông qua HĐ GT, trẻ sẽ được tiếp cận, lĩnh hội và bồi đắp cho bản thân các kiến thức và KNXH.
Từ đó, óc tư duy của trẻ được hình thành và phát triển, trẻ thực sự trở thành người. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ mầm non Thế kỷ XX, vấn đề trở thành mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu khoa học là GT. Tiêu biểu trong số đó phải kể đến A.Lêonchiev và các cộng sự, với họ GT như là một dạng HĐ, tồn tại đầy đủ động cơ, mục đích, điều kiện và phương tiện hoạt động [12].Béccchurép (1857-1927) trong cuốn “Tâm lý học khách quan” (1970), “Phản xạ học tập thể” (1921) đã bàn đến HĐ GT.
Ở đây ông cho rằng để hình thành và phát triển nhân cách mỗi người phải có sự tham gia tích cực của HĐ GT. Bàn về GT của trẻ em, cùng với sự ra đời ngành Tâm lý học trẻ em, các nghiên cứu về GT cuả trẻ em được phát triển mạnh mẽ, trên nhiều khía cạnh, có thể khái quát theo ba hướng sau: Hướng một, các tác giả tập trung nghiên cứu vai trò, chức năng của GT trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em. GT được xem như là điều kiện cơ bản để trẻ có thể phát triển toàn diện. Việc trẻ có thể hình thành quan hệ 6 GT tốt với những người xung quanh trở thành điều kiện giúp trẻ bộc lộ và hình thành năng lực riêng của trẻ.
Các tác giả đại diện cho khuynh hướng này gồm có: A.Vôrônôva… Hướng hai, các tác giả Tara Winterton; Đavid Warden; A.Charles, Rae Pica… đề cao vấn đề hình thành KNGT cho trẻ nhỏ. Tức là, để GD được KNGT cho trẻ thì môi trường GT tích cực xung quanh trẻ rất quan trọng, nhà trường và gia đình là hai môi trường có tác động mạnh mẽ nhất đối với trẻ trong gia đoạn này. Hướng ba, các nghiên cứu bàn về việc phát triển GT của trẻ em gồm có các tác giả: A. Theo các tác giả, để phát triển HĐGT cho trẻ cần dựa vào cuộc sống thực của trẻ, thông qua các HĐ gần gũi và đa dạng với trẻ.
Trong đó, vui chơi là HĐ chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi MN [23]. Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non thông qua trò chơi đóng kịch TC là một HĐ hình thành và tồn tại từ rất lâu đời cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người. Tuy nhiên, các nghiên cứu về TC phải đến cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX mới trở nên sôi nổi. Đi đầu phải kể đến những nhà khoa học Nga như L.
Quá trình phát triển của trẻ lứa tuổi MN, TC là một HĐ tự nhiên và rất cần thiết. Lêônchiép đã coi “TCĐK là một hình thức quá độ sang HĐ thẩm mĩ, HĐ nghệ thuật”, từng câu chữ khi trẻ được nghe, được cảm, được thể hiện đều có tác động trực tiếp đến tư duy ngôn ngữ trẻ. Vì thế, ở trường MN, nhiệm vụ quan trọng của nhà GD là làm thế nào để trẻ cảm thấy yêu kịch, ham thích tham gia đóng kịch [12].Steptsenko, trong cuốn “Đọc và Kể chuyện văn học ở vườn trẻ”, ý nghĩa của TCĐK được khẳng định, tác giả xem nó như là một phương tiện GD nhiều mặt, trong đó sự GD KNGT cho trẻ là một ưu thế mà TCĐK có được. Đồng thời tác giả khi nghiên cứu còn nhận thấy, TCĐK kích thích 7 trẻ đam mê, yêu văn học, phát triển lời nói tự tin, mạch lạc, tư duy ngôn ngữ linh hoạt.
Khi HĐ hướng dẫn trẻ đóng kịch diễn ra, cô và trẻ cùng nhau đọc kể tác phẩm, xem tranh, cùng nhau luyện tập những động tác phù hợp với vai diễn. sẽ tạo ra những cách thức trau dồi ngôn ngữ cho trẻ, GD KNGT cho trẻ [34]. Xorokiana, trong “GD học mẫu giáo” đã lựa chọn TCĐK vào QTGD trẻ. Và từ HĐ chơi đó, HĐ học của trẻ lứa tuổi MN liên tục được phát triển [37].
Lý thuyết dạy ngôn ngữ hệ thống của Ph.Sookhin làm rõ, nhiệm vụ PTNN cho trẻ MN gồm có: “Phát triển vốn từ và đặc biệt là kỹ năng sử dụng từ ngữ để diễn đạt ý nghĩa một cách rõ ràng, ngắn gọn và chính xác; GD chuẩn mực ngữ âm, hình thành cấu trúc ngữ pháp” [22]. Để thực hiện được các nhiệm vụ đó cần áp dụng các biện pháp pháp như: “Kể lại chuyện theo tác phẩm văn học”, “Kể chuyện theo tranh”, “Kể chuyện theo kinh nghiệm”, “Kể chuyện theo đồ chơi”, “Dựng chuyện”. Đây là cơ sở cho việc GD KNGT cho trẻ lứa tuổi MN, đưa lĩnh vực này thành khoa học về GD trẻ trước tuổi đi học [22]. Từ những nghiên cứu trên cho thấy, KNGT là một phần vốn có của con người, là nhu cầu không thể thiếu để con người được “là người”.
Nhu cầu GT luôn tồn tại mạnh mẽ cùng với quá trình phát triển của mỗi người. Khi có KNGT tốt trẻ sẽ tự tin vào bản thân, tự tin khẳng định mình trong cuộc sống. Chính vì vậy, ở mỗi đứa trẻ rất cần được GD và bồi đắp hàng ngày. Việc lựa chọn hình thức GD KNGT cho trẻ lứa tuổi MN có ý nghĩa rất lớn, tác động trực tiếp đến hiệu quả của QTGD trẻ.
Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng giao tiếp của trẻ mầm non Ở Việt Nam, GT được coi là nền tảng, thước đo để đánh giá giá trị đạo đức của mỗi người. Vì vậy, GD KNGT cho trẻ nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà GD. Tác giả Hoàng Anh đề xuất quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm cho sinh viên các trường sư phạm [1]. 8 Tác giả Lê Thu Thủy, trong nghiên cứu “GD hành vi GT có văn hóa với bạn cùng lứa tuổi cho trẻ lớp 4, lớp 5 trường tiểu học” in trên tạp chí Giáo dục năm 1995, tác giả đã làm rõ hành vi GT có văn hóa của trẻ dưới hai góc độ: 1.
Các nét tính cách bộc lộ qua GT và các KNGT của trẻ; 2. Thiết kế QTGD hành vi GT có văn hóa cho trẻ lớp 4, lớp 5 trong phạm vi trường học [26]. Trong các tác phẩm “Giáo dục trẻ em trong nhóm bạn bè” (1987), “Sự hình thành xã hội trẻ em trước tuổi học” (1988), “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non” (1995), tác giả Nguyễn Ánh Tuyết rất quan tâm đến vai trò của sự GT giữa mẹ và con với sự phát triển của trẻ trong những năm đầu dời và cả cuộc đời sau này của trẻ, nhấn mạnh vai trò, đặc điểm của sự GT giữa trẻ với nhau. GD KNGT cho trẻ cần có sự quan sát, tạo dựng môi trường GT tốt để trẻ được phát triển [29][30].
Đối với trẻ MN, KNGT được coi là kỹ năng cơ bản. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về GD KNGT ngày càng phong phú, khẳng định vai trò của GD KNGT cho trẻ MN, tính thực tế của đề tài trong việc nghiên cứu. Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non thông qua trò chơi đóng kịch Khi nghiên cứu về TCĐK, làm rõ vai trò và ý nghĩa của vấn đề phát triển KNGT cho trẻ thông qua TCĐK được hầu hết các tác giả thống nhất và đồng thuận. Trong “Giáo trình Giáo dục học mầm non” tác giả Nguyễn Thị Hòa đã chỉ rõ: “Bằng ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm, TCĐK giúp trẻ nắm được ngôn ngữ dân gian có nội dung phong phú đầy sức diễn cảm.
Từ đó giúp trẻ cảm nhận nội dung và ý nghĩa của câu chuyện. Thông qua TC còn giúp trẻ hiểu được chân, thiện, mĩ, từ đó bồi dưỡng cho trẻ có tâm hồn thanh cao, có lòng nhân ái, bao dung”. Điều mà tác giả muốn nhấn mạnh đối với GV là khi tổ chức cho trẻ chơi TCĐK cần duy trì ở trẻ những cảm xúc tốt đẹp, thái độ sống tích cực với các bạn cùng chơi. Từ đó, trẻ luôn có trạng thái vui vẻ, mang theo dư âm tốt lành về TC.
Khi đó mục tiêu GD của nhà GD sẽ đạt được [13]. 9 Tác giả Đinh Văn Vang trong “Giáo trình tô chức hoạt động vui chơi ở trường mâm non” đã nghiên cứu sâu sắc về TCĐK. Tác giả nhận thấy, suốt quá trình chơi TCĐK trẻ phải huy động các chức nắng tâm lý như ngôn ngữ, trí nhớ, óc tưởng tượng, sáng tạo, xúc cảm để thể hiện tính cách nhân vật, do vậy mà các chức năng tâm lý cũng như KNGT của trẻ được hình thành và phát triển, dần dần theo thời gian sẽ trở nên hoàn thiện hơn [32]. Tác giả Hà Nguyễn Kim Giang trong “Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với TPVH” và “Phương pháp kể chuyện sáng tạo truyện cổ tích thần kì” đã nghiên cứu và đưa ra một quy trình tổ chức TCĐK, tập trung làm rõ vai trò của TCĐK trong GD toàn diện trẻ, đặc biệt là trong lĩnh vực GD thẩm mỹ, “chính những yêu cầu đặt ra trong suốt quá trình chơi đòi hỏi trẻ phải phát huy cao độ sự HĐ của các chức năng tâm lý như lời nói, tưởng tượng, trí nhớ, tư duy.
Nó giúp trẻ tích lũy được kinh nghiệm sống qua trải nghiệm các nhân vật trong tác phẩm, nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển lời nói và phát triển xúc cảm, tình cảm thẫm mỹ ở trẻ. Qua TCĐK trẻ lĩnh hội được lời nói giàu hình ảnh, học được giọng nói diễn cảm, rõ ràng” [12]. Một số công trình nghiên cứu khoa học mới đây của các tác giả như: Luận văn Thạc sĩ GD học của tác giả Ngô Thị Tuyết Mai (2013) “Biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi đóng kịch ”, Luận văn Thạc sĩ GD học của tác giả Vũ Thị Phương Thảo (2013) “Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non”, Luận văn Thạc sĩ GD học của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2014) “Thực trạng sử dụng bộ công cụ đánh giá sự phát triển ngôn ngữ và GT của trẻ 5 tuổi tại tỉnh Bình Dương”. đã góp phần mang đến những nghiên cứu có giá trị thực tiễn sâu sắc.