Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Lý luận tổ chức hoạt động dạy học 1. Quá trình nhận thức và sự lĩnh hội kiến thức Sơ đồ ngắn gọn của quá trình nhận thức đã đƣợc Lê nin nêu lên: Từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng rồi từ tƣ duy trìu tƣợng trở về thực tiễn. Đó là con đƣờng biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức thực tế khách quan.
Về những yêu cầu cơ bản của tƣ duy biện chứng duy vật cũng đƣợc Lê nin chỉ rõ:. muốn thực sự hiểu biết đƣợc sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các sự liên hệ trung gian của sự vật đó. Chúng ta không thể làm đƣợc điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ. Những sự cần thiết phải xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi sự sai lầm và cứng nhắc, đó là điểm thứ nhất.
Điểm thứ hai là: Lôgíc biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong sự tự vận động (nhƣ Hêghen đã nói ), trong sự biến đổi của nó. Điểm thứ ba là: toàn bộ thực tiễn của con ngƣời-thực tiễn này vừa với tính cách là tiêu chuẩn của chân lý, vừa với tính cách là kẻ xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa sự vật với những điều cần thiết đối với con ngƣời - cần đƣợc bảo đảm trong định nghĩa đầy đủ của sự vật. Điểm thứ tƣ là: Lôgíc biện chứng dạy rằng không có chân lý trừu tƣợng, rằng chân lý luôn luôn là cụ thể. Trong dạy học, giáo viên cần tổ chức quá trình lĩnh hội kiến thức của học sinh phù hợp với con đƣờng biện chứng của quá trình nhận thức, trong đó có mối liên hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, giữa phân tích và tổng hợp, giữa trừu tƣợng hoá, khái quát hoá và cụ thể hoá, giữa quy nạp và suy diễn, giữa nhận thức và thực tiễn.
Nhà tâm lý học ngƣời Nga X.Rubienstêin viết: “Nội dung cảm tính bao giờ cũng có trong tƣ duy trừu tƣợng, tựa hồ nhƣ làm thành chỗ dựa cho tƣ duy ( X.L,Rubienstêin, tồn tại và ý thức, M 1957, tr 71) tiếng Nga. Ngƣợc lại tƣ duy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học TN http://www.vn và những kết quả của nó chi phối khả năng phản ánh của cảm giác, làm cho khả năng đó của con ngƣời tinh vi hơn, nhạy bén hơn, mang tính lựa chọn và trở lên có ý nghĩa hơn. Ăngghen viết: “ nhập vào con mắt của chúng ta chẳng những có cảm giác khác mà còn có cả hoạt động tƣ duy của ta nữa”. Bản chất của học và chức năng của dạy trong hệ tƣơng tác dạy học * Bản chất hành động của sự học - Sự hình thành kiến thức (sự học ) của HS không chỉ đơn thuần là in vào đầu óc họ những cái có sẵn, diễn tả bằng ngôn ngữ và tồn tại độc lập với HS.
Cũng không thể quan niệm thực chất của sự học chỉ là chỗ ngƣời học đạt đƣợc (thể hiện ra đƣợc ) những hành vi xác định nào đó. Theo quan điểm tâm lý học tƣ duy thì sự học là sự phát triển về chất của cấu trúc hành động. Cùng một hành vi bề ngoài giống nhau chất lƣợng, hiệu quả của sự học vẫn có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào sự phát triển của cấu trúc, của hành động học, của chủ thể. Ở đây hành vi đƣợc xem nhƣ kết quả biểu hiện ra ngoài của hành động, còn cách thức để đạt tới kết quả đó đƣợc xem nhƣ cấu trúc bên trong của hành động học.
Nhƣ vậy: Sự học phải là một quá trình hình thành và phát triển của những dạng thức hành động xác định, thông qua thích ứng của chủ thể với tình huống hoạt động của chủ thể tồn tại tƣơng ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó. Hoạt động đó có đối tƣợng cấu thành từ các hoạt động, hành động lại gồm các thao tác. Hành động có mục đích, điều kiện, phƣơng tiện cụ thể. Sơ đồ mô tả hành động học nhƣ hình 1.
Hoạt động Động cơ Hành động Mục đích Thao tác Điều kiện, phƣơng tiện Hình 1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học TN http://www.vn Tóm lại, ta có thể hiểu: Sự học nói chung là sự thích ứng của ngƣời học với những tình huống thích đáng làm nảy sinh và phát triển ở ngƣời học những dạng thức hoạt động xác định, phát triển ở ngƣời học những năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách của cá nhân. + Chức năng tổ chức, kiểm tra định hƣớng hành động học của sự dạy. Học là một hành động của học sinh xây dựng kiến thức cho bản thân mình và vận dụng kiến thức của mình, thì dạy học là dạy hành động (Hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức). Và do đó, trong dạy học, GV cần tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của HS để qua đó HS chiếm lĩnh đƣợc tri thức, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình.
Trong sự vận hành của hệ tƣơng tác dạy học gồm ngƣời dạy(GV)- ngƣời học (HS)và tƣ liệu hoạt động dạy học(môi trƣờng)đƣợc mô tả bằng hình 2 Định hƣớng GV Liên hệ ngƣợc HS Thích ứng Tƣ liệu hoạt động dạy học ( Môi trƣờng ) Tổ chức Cung cấp tƣ liệu tạo tình huống Hình 2: Hệ tƣơng tác dạy học - Hành động của HS với tƣ liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của HS với tình huống học tập đồng thời là hành động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho bản thân mình và sự tƣơng tác đó của HS với tƣ liệu đem lại cho GV những thông tin liên hệ ngƣợc cần thiết cho sự chỉ đạo của GV đối với HS. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học TN http://www.vn - Tƣơng tác trực tiếp giữa các HS với nhau và giữa HS với GV là sự trao đổi, tranh luận giữa cá nhân và nhờ đó từng cá nhân HS tranh thủ sự hỗ trợ xã hội từ phía GV và tập thể HS trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức. Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng giữa mục đích, nội dung, và PPDH nhƣng vấn đề đặt ra là phải sử dụng những phƣơng pháp nhƣ thế nào để phát huy tính tự lực và phát triển tƣ duy khoa học cho HS ? Để trả lời đƣợc các câu hỏi đó chúng ta cần dựa trên cơ sở lí luận về phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát triển tƣ duy của HS. Luận điểm phƣơng pháp dạy học khoa học theo mục tiêu đổi mới nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ sáng tạo và tƣ duy khoa học của HS.
[5] Dạy học là môn khoa học ở nhà trƣờng không chỉ đơn thuần nhằm một mục tiêu duy nhất là giúp HS có đƣợc một số kiến thức cụ thể nào đó .Điều quan trọng hơn là trong quá trình dạy học các tri thức cụ thể đó rèn luyện cho HS tiềm lực để khi ra trƣờng họ có thể tiếp tục tự học tập, có khả năng nghiên cứu tìm tòi giải quyết vấn đề, đáp ứng đƣợc những đòi hỏi đa dạng của hoạt động thực tiễn không ngừng phát triển. Cũng chỉ trong điều kiện dạy học nhƣ vậy mới đảm bảo những kiến thức HS đã học đƣợc là những kiến thức thực sự có chất lƣợng sâu sắc, vững chắc, vận dụng đƣợc. Việc quán triệt quan điểm trên đây về mục tiêu dạy học các môn khoa học, cùng với việc quán triệt quan điểm hoạt động về bản chất của học và của dạy và quan điểm hiện đại của phƣơng pháp luận khao học, dẫn tới việc xác lập một hệ thống các luận điểm quan trọng làm nền tảng cho việc nghiên cứu thực nghiệm dạy học về chiến lƣợc dạy học phát triển hoạt động tự chủ chiếm lĩnh tri thức, bồi dƣỡng tƣ duy khoa học - kỹ thuật và năng lực giải quyết vấn đề. Đó là những luận điểm cơ bản dƣới đây, đƣợc coi là những nguyên tắc chỉ đạo hoạt động dạy.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học TN http://www. Vai trò quan trọng của sự dạy là thực hiện việc tổ chức, kiểm tra, định hướng hữu hiệu hoạt động học. Sự học nói chung, là sự thích ứng của ngƣời học với những tình huống thích đáng, làm nảy sinh và phát triển ở ngƣời học những dạng hoạt động xác định, phát triển ở ngƣời học những năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách cá nhân. Nói riêng, sự học có chất lƣợng một trí thức khoa học mới nào đó phải là sự thích ứng của ngƣời học với những tình huống học tập thích đáng.
Chính quá trình thích ứng này là hoạt động của ngƣời học xây dựng nên tri thức mới với tính cách là phƣơng tiện tối ƣu giải quyết tình huống mới. Đồng thời đó là quá trình góp phần làm phát triển các năng lực nhận thức, thực tiễn và nhân cách của ngƣời học. Bởi vậy, một vai trò quan trọng của GV trong dạy học môn khoa học là tổ chức đƣợc những tình huống học tập và thực hiện đƣợc sự kiểm tra, định hƣớng, hoạt động hữu hiệu, cho phép gợi ra ở HS hoạt động học tập tự chủ, tích cực dẫn tới sự chiếm lĩnh đƣợc tri thức khoa học, theo cách tiếp cận hiện thực tƣơng tự nhƣ các nhà khoa học. Sự cần thiết tổ chức tình huống vấn đề trong dạy học Tri thức khoa học đƣợc xây dựng khi nhà khoa học có động cơ giải quyết một vấn đề, tìm lời giải đáp cho một câu hỏi đặt ra mà việc tìm lời giải đáp cho câu hỏi đó chính là phải tìm tòi một cái mới, chứ không chỉ đơn thuần là việc tái hiện, lặp lại các kiến thức và cách thức hoạt động quen thuộc có sẵn.
Bởi vậy, trong việc dạy học môn khoa học, GV cần tổ chức đƣợc những tình huống vấn đề. Đó chính là việc tổ chức những tình huống trong đó có xuất hiện vấn đề cần giải quyết mà HS tự thấy mình có khả năng tham gia giải quyết và do đó sẽ suy nghĩ và đƣa ra giải pháp riêng của mình, tự tìm tòi cách giải quyết riêng thích hợp. Chính trong điều kiện đó, với sự giúp đỡ định hƣớng của GV, HS sẽ xây dựng đƣợc cho mình những tri thức khoa học sâu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học TN http://www.vn sắc, vững chắc và vận dụng đƣợc, đồng thời qua quá trình đó năng lực trí tuệ của học sinh sẽ đƣợc phát triển .