Phần mở đầu. - Chƣơng 1 trình bày tổng quan về vấn đề đƣợc nghiên cứu. - Chƣơng 2 trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của việc bồi dƣỡng NL GQVĐ của HS trong HĐNK VL. - Chƣơng 3 trình bày quy trình tổ chức HĐNK chủ đề “Xây dựng và sử dụng TBTN tĩnh điện” nhằm bồi dƣỡng NL GQVĐ của HS lớp 11.
- Chƣơng 4 trình bày việc TNSP. - Kết luận, kiến nghị. - Tài liệu tham khảo. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ ĐƢỢC NGHIÊN CỨU 1.
Các nghiên cứu về dạy học giải quyết vấn đề và bồi dƣỡng năng lực giải quyết vấn đề Rất nhiều nghiên cứu của các nhà GD trong các thế kỉ trƣớc và đặc biệt là những năm đầu của thế kỉ XXI đều khẳng định mục đích cao nhất của GD là đào tạo ra những con ngƣời có kiến thức và sử dụng kiến thức đó một cách linh hoạt, sáng tạo nhằm giải quyết các vấn đề phức tạp liên quan đến cuộc sống [43], [52], [58], [64], [66], [68], [69]. Các nghiên cứu đều khẳng định là trong quá trình DH, ngƣời thầy phải tạo điều kiện cho HS đƣợc hoạt động theo cách thức khoa học, qua đó HS chiếm lĩnh tri thức và phát triển các NL [45], [53], [59], [68], [69]. * Các nghiên cứu về GD đều cho thấy: GD không chỉ là truyền thụ kiến thức, mà còn góp phần quan trọng đến việc phát triển toàn diện nhân cách HS. Trong sự phát triển đa dạng của nhân cách thì phát triển NL nhận thức là cơ sở, có ảnh hƣởng lớn đến việc phát triển những NL khác.
Thành tựu quan trọng nhất của các nghiên cứu về nhận thức, về việc học của con ngƣời chính là hai lí thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget và Vƣgôtski. Piaget khẳng định cuộc sống là sự sáng tạo không ngừng các dạng thức ngày càng phức tạp và sự cân bằng ngày càng tăng của các dạng thức này với môi trƣờng. Còn theo Vƣgôtski, sự thúc đẩy của tƣơng tác xã hội giúp HS vƣợt qua những vùng phát triển gần của sự nhận thức thông qua sự nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp đỡ của ngƣời khác [14], [15], [33], [42], [51], [70], [72], [73], [76]. * Vào giữa thế kỉ XX, những nhà GD nổi tiếng nhƣ I.Danilop… đã xây dựng phƣơng pháp DH nêu vấn đề, các kĩ thuật nêu vấn đề để tạo ra các cảm xúc tích cực ở HS, hƣớng dẫn HS tự lực GQVĐ [26], [71].
8 * Trong thế kỉ XX, dựa trên lí thuyết hoạt động của Vƣgôtski, nhà GD Nga A. Lêônchiép đã phát triển lí thuyết về hoạt động học: Bằng hoạt động và thông qua hoạt động, mỗi ngƣời tự tạo dựng và phát triển ý thức cá nhân của mình. Vận dụng vào DH, việc học tập của HS có bản chất hoạt động: Bằng hoạt động, thông qua hoạt động của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển NL trí tuệ cũng nhƣ quan điểm đạo đức, thái độ [50]. Trong những năm cuối của thế kỉ XX và đặc biệt là 2 thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, các nghiên cứu khoa học về cơ chế hoạt động của bộ não, về cách con ngƣời tƣ duy để tiếp thu kiến thức, về sự phát triển NL đang có những kết quả vƣợt bậc và dần đi đến những nhận định thống nhất.
Trong một nghiên cứu của Ủy ban Khoa học về Hành vi - Xã hội và GD Hoa Kì, thuộc Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kì [67] đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực để đi đến những nhận định: Trẻ em là những ngƣời học chủ động, có thể đặt ra mục tiêu, lên kế hoạch, thực hiện và vận dụng. Trẻ em học cách tập hợp, tìm kiếm, tổ chức sắp xếp các thông tin, tài liệu, để từ đó các em phát triển nhận thức, bao gồm khả năng ghi nhận kiến thức, vận dụng chúng để giải quyết các vấn đề. Theo tài liệu [67], [68], Vƣgôtski nhấn mạnh đến vai trò chủ động của HS trong môi trƣờng xã hội với các công cụ, dụng cụ, đồ vật thuộc văn hóa là tác nhân của việc phát triển tƣ duy. Cũng theo [67] và các nghiên cứu của Piaget, những tác động kích thích từ môi trƣờng làm thay đổi dần cấu trúc nhận thức của HS, thông qua cơ chế đồng hóa và điều ứng để thích nghi.
Các nhận định đó cũng phù hợp với nhiều kết quả của khoa học thần kinh, với các nghiên cứu hiện đại về cơ chế hoạt động của não bộ. Các nghiên cứu này khẳng định: việc học có thể làm thay đổi đƣợc cấu trúc và chức năng của bộ não, điều này làm tăng khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp của HS. Chiến lƣợc DH môn VL hiệu quả đƣợc đƣa ra trong các nghiên cứu [67] cho rằng, cần tạo điều kiện để HS tham gia vào giải quyết các vấn đề theo cách của các nhà khoa học. Theo đó, HS cần đƣợc tạo điều kiện để đặt ra và trả lời các câu hỏi nhƣ: Về cái gì? Tại sao? và Nhƣ thế nào? trong bối cảnh giải quyết một vấn đề khoa học.
Trong vài chục năm trở lại đây, các nghiên cứu về DH của nƣớc ta cũng tiếp cận với các xu hƣớng DH nêu trên, và đều hội tụ đến những khẳng định quan trọng làm nền tảng cho việc DH hiệu quả. Các tác giả Nguyễn Kỳ (1996) [28], Trần Bá 9 Hoành (1998) [19] đã trình bày các nghiên cứu về mô hình GD “Lấy HS làm trung tâm”. Trong DH môn VL, các tác giả Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hƣng (1998) [51], tác giả Phạm Hữu Tòng (2008) trong nghiên cứu về tổ chức hoạt động nhận thức trong DH VL [56] đã khẳng định: DH hiệu quả khi triển khai theo cách GQVĐ khoa học. Các tác giả đã đề xuất quy trình DH GQVĐ một nội dung kiến thức VL với 4 bƣớc hoạt động (làm nảy sinh vấn đề, phát biểu vấn đề, GQVĐ bằng suy luận lí thuyết hay KS ThN và kết luận, mở rộng vấn đề).
Tác giả Thái Duy Tuyên (2008) cũng có những công trình nghiên cứu về tổ chức hoạt động nhận thức trong DH VL [66], trong đó nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc định hƣớng hành động học của HS theo tiến trình khoa học. Tác giả Đỗ Hƣơng Trà (2011) trình bày về các phƣơng pháp DH hiện đại, trong đó có trình bày phƣơng pháp “Bàn tay nặn bột” [59], [60] nhấn mạnh đến tổ chức các hoạt động học của HS phỏng theo cách nhà khoa học thực hiện nghiên cứu. Những nghiên cứu đều đi đến nhận định then chốt là: Trong hoạt động học tập, HS phải là ngƣời tích cực, chủ động đặt ra mục tiêu, lên kế hoạch thực hiện hành động và cái họ học đƣợc là cơ cấu tổ chức, sắp xếp kiến thức và chính trong sự phát triển nhận thức thì HS sẽ tự trang bị cho mình các NL, cách thức làm việc, cách thức GQVĐ một cách linh hoạt và hiệu quả. Vận dụng những nghiên cứu của các nhà GD học và lí luận DH, các nghiên cứu triển khai ở nƣớc ta theo hƣớng này đƣợc thực hiện nhƣ: Nguyễn Anh Thuấn (2007), Xây dựng và sử dụng TB TN trong DH chƣơng “Sóng cơ học” ở lớp 12 THPT theo hƣớng phát triển hoạt động nhận thức tích cực, sáng tạo của HS [54]; Đặng Minh Chƣởng (2011), Xây dựng và sử dụng các TBTN thực tập trong DH chƣơng “Cảm ứng điện từ” ở lớp 11 THPT nâng cao theo hƣớng phát triển hoạt động nhận thức tích cực, sáng tạo của HS [10], Dƣơng Xuân Quý (2011), Xây dựng và sử dụng TBTN thực tập theo hƣớng phát triển hoạt động học tích cực, sáng tạo của HS trong DH chƣơng “Dao động cơ” ở lớp 12 trƣờng THPT [45]; Hà Duyên Tùng (2014), Xây dựng và sử dụng các TBTN theo hƣớng phát triển hoạt động nhận thức tích cực, sáng tạo của HS trong DH các kiến thức về từ trƣờng ở lớp 11 THPT [63].Các nghiên cứu này đều cùng hƣớng đề cập đến việc triển khai DH theo hƣớng phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của HS qua DH GQVĐ theo con đƣờng KS ThN hoặc suy luận lí thuyết.
Tuy vậy, các nghiên cứu còn chƣa 10 đề cập đến việc tổ chức DH GQVĐ các nội dung về tĩnh điện và ƢDKT của các kiến thức này. Cuộc cách mạng 4.0 hiện nay đã đƣa nhân loại chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức - thông tin, điều này đòi hỏi GD ở tất cả các nƣớc đều phải đƣa ra điều chỉnh linh hoạt để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho xã hội. Việc điều chỉnh GD đều bắt đầu từ việc chuyển từ mục tiêu trang bị kiến thức sang mục tiêu phát triển phẩm chất và NL của HS. Hội đồng GD thuộc UNESCO nói về “GD thế kỷ XXI” (1997) đã khẳng định mục tiêu GD chung với 4 trụ cột: Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình.
Theo quan điểm này, rất nhiều nền GD quan tâm đến xây dựng cấu trúc NL chi tiết và cụ thể để định hƣớng việc thực hiện mục tiêu GD phát triển NL, trong đó có thể kể đến khung NL trong chƣơng trình GDPT bang Quebec - Canada (2014), khung NL của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tể thế giới OECD [42]. Các nghiên cứu về đổi mới GD của Việt Nam gần đây cũng quan tâm xây dựng khung cấu trúc NL [2], [3], [4], [6], [61], [62].trong đó đều thống nhất là các NL có cấu trúc cụ thể với những nét cơ bản, với những điểm chung, đó là thuộc tính cá nhân đƣợc hình thành và phát triển nhờ tố chất và sự nỗ lực học tập, rèn luyện của bản thân, cho phép con ngƣời thực hiện thành công các hoạt động nhất định, đạt đƣợc kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Các nghiên cứu lí luận gần đây [2], [61], cũng nhƣ trong chƣơng trình GD 2018 [3], [4], [6] cho thấy: Trong số các NL cần phát triển ở HS thì NL GQVĐ là một trong những NL chung cần đƣợc bồi dƣỡng cho HS ở mọi cấp học, bậc học và ở mọi môn học, trong đó có môn VL ở trƣờng THPT. Ngay trong NLVL (NL đặc thù đƣợc bồi dƣỡng trƣớc hết trong môn VL) cũng có những yếu tố của NL GQVĐ.
Các nghiên cứu lí luận [2], [61] còn nhấn mạnh rằng: cần tổ chức DH mở, linh hoạt, đa dạng khi tổ chức DH để phát triển NL của HS.