phần mở đầu, phần kết luận khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài gồm có 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa thông qua thơ ca, truyện cho trẻ mẫu giáo lớn. 16 - Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn về việc giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua thơ ca, truyện tại trƣờng mẫu giáo Sơn Ca. - Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp và tổ chức thực nghiệm giáo dục hành vi ứng xử có văn hóa cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua thơ ca, truyện tại trƣờng mẫu giáo Sơn Ca. 17 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC HÀNH VI ỨNG XỬ CÓ VĂN HÓA THÔNG QUA THƠ CA, TRUYỆN CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN 1.
Một số khái niệm công cụ 1. Giáo dục Hiểu theo nghĩa rộng: Là sự hình thành có mục đích, có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con ngƣời, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ cho con ngƣời; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dƣỡng, dạy học và tất cả những yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con ngƣời, đáp ứng các yêu cầu kinh tế xã hội. [5] Theo nghĩa hẹp: Là bộ phận của quá trình sƣ phạm, là quá trình hình thành nên cơ sở khoa học của thế giới quan, niềm tin, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen cƣ xử đúng đắn trong xã hội. Hành vi Thuật ngữ “hành vi” đƣợc sử dụng nhiều bắt đầu từ đầu thế kỷ XX và đƣợc xem xét từ nhiều quan điểm khác nhau: Quan điểm của các nhà sinh vật học cho rằng: Hành vi là cách sống và hoạt động trong môi trƣờng xã hội nhất định dựa trên sự thích nghi của cơ thể và môi trƣờng đó nhằm đảm bảo cho nó đƣợc tồn tại.
Quan điểm của chủ nghĩa hành vi cho rằng hành vi đƣợc thể hiện không có sự tham gia cơ bản của chủ thể, của nhân cách và nó đƣợc biểu thị bằng công thức S -> R (trong đó S là kích thích, R là phản ứng). Hai quan điểm trên đều cho rằng hành vi của con ngƣời là những phản ứng trả lời kích thích một cách trực tiếp của con ngƣời giúp họ thích nghi với sự thay đổi của môi trƣờng mà bỏ qua các yếu tố chi phối đến sự thực hiện hành vi nhƣ tâm lý và ý thức. Cả hai quan điểm trên không phải hoàn toàn sai nhƣng chƣa đầy đủ. 18 Hành vi là biểu hiện bên ngoài của hoạt động, đƣợc điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lí bên trong của chủ thể, của nhân cách.
Đây là khái niệm rõ nhất, đầy đủ nhất về quan niệm hành vi. Công thức hành vi: S → X → R ( X: là tâm lí, năng lực, ý thức của chủ thể, có chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi). Từ phân tích trên , chúng ta có thể hiểu hành vi là cách ứng xử của con ngƣời trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định với sự điều khiển, điều chỉnh của tâm lý, ý thức ngƣời đó. Hành vi văn hóa Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết: Hành vi văn hóa là cách ứng xử của con ngƣời trong một hoàn cảnh nhất định, bị chi phối bởi hệ thống giá trị văn hóa của dân tộc (hay một nhóm ngƣời trong đó), mà cốt lõi là giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ, khiến cho cách ứng xử mang tính đặc thù của dân tộc ấy.
Để hiểu rõ nhƣ thế nào là hành vi văn hoá, trƣớc hết cần hiểu thế nào là văn hoá. “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất ; trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật, văn chƣơng, lối sống, quyền cơ bản của con ngƣời, hệ thống giá trị, tập tục và tín ngƣỡng". [5, tr7] Với cách hiểu nhƣ vậy, ông M.
Federico, tổng giám đốc Unesco đã nói rõ hơn: "Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống của mỗi cá nhân hay cộng đồng, đã diễn ra trong quá khứ cũng nhƣ đang diễn ra trong hiện tại qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống giá trị truyền thống chủ yếu là về đạo đức và thẩm mỹ mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định lối sống riêng của mình".[5, tr7] Từ đó ta có thể hiểu hành vi văn hoá là cách ứng xử của con ngƣời trong một hoàn cảnh nhất định, bị chi phối bởi hệ thống giá trị văn hoá của dân tộc (hay một nhóm ngƣời trong đó), mà cốt lõi là giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ, khiến cho cách ứng xử mang tính đặc thù của dân tộc ấy. 19 Để hiểu rõ hơn về HVVH cần phân biệt hành vi văn hóa và hành vi đạo đức: - Sự giống nhau: Giữa hành vi văn hóa và hành vi đạo đức có nét tƣơng đồng, đó là đều nói đến tính chủ thể (hành vi là hành vi của ai? Trong mối quan hệ của ai?) và tính ý thức của chủ thể, đó là đều thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể với chủ thể, chủ thể với đối tƣợng và đều đƣợc thực hiện bởi chủ thể có ý thức, có mục đích nhất định. - Sự khác biệt: Giữa hành vi văn hóa và hành vi đạo đức đó là: Hành vi đạo đức chi phối bởi chuẩn mực đạo đức còn hành vi văn hóa chi phối bởi chuẩn mực xã hội bao gồm hai phạm trù đạo đức và thẩm mĩ. Ứng xử Hành vi của con ngƣời khi đƣợc xem xét trong hoàn cảnh cụ thể ngƣời ta thƣờng dùng khái niệm ứng xử.
Tuy nhiên khái niệm “ứng xử” hiện nay chƣa đƣợc xác định cụ thể. Hiện nay có khá nhiều quan điểm khác nhau về “ứng xử”: Trong tâm lý học, thuật ngữ “ứng xử” đang đƣợc hiểu và sử dụng theo hai hƣớng: - Theo nghĩa rộng: Ứng xử là những phản ứng đáp lại đối với thế giới khách quan (thế giới vật chất bao quanh con ngƣời, ngƣời khác, kể cả những sản phẩm do con ngƣời làm ra). - Theo nghĩa hẹp: Ứng xử là những phản ứng thể hiện thái độ của chủ thể với ngƣời khác nảy sinh trong quá trình giao tiếp. - Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con ngƣời trƣớc sự tác động của ngƣời khác với mình trong một tình huống nhất định đƣợc thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con ngƣời nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau.
Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân đƣợc thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những ngƣời chung quanh. - Tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: “Ứng xử là hành vi, phản ứng của con ngƣời nảy sinh trong quá trình giao tiếp do những rung cảm cá nhân kích thích, 20 nhằm lĩnh hội , truyền đạt những tri thức, vốn kinh nghiệm của cá nhân, xã hội trong những tình huống nhất định”. [4] Nhƣ vậy khái niệm ứng xử bao hàm cả bản chất tự nhiên và bản chất xã hội của con ngƣời. Trong đó bản chất tự nhiên (cái bản năng, bẩm sinh vốn có của mỗi ngƣời, chủ yếu là đặc điểm hệ thần kinh) là cơ sở nền tảng để hình thành cái xã hội trong hành vi ứng xử của con ngƣời.
Trong quá trình giao tiếp với trẻ mầm non phải chú ý đến nền tảng phát triển cơ thể trẻ để dạy trẻ cách ứng xử với thế giới xung quanh theo kiểu ngƣời. Hành vi ứng xử có văn hóa Từ những khái niệm trên ta có thể đã định nghĩa về “hành vi ứng xử có văn hóa” nhƣ sau: Hành vi ứng xử có văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con ngƣời, đƣợc thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con ngƣời đối với bản thân, với những ngƣời chung quanh, trong công việc và môi trƣờng hoạt động hằng ngày. Tuy nhiên hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau, nó đƣợc hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trƣởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội. Hành vi ứng xử văn hóa đƣợc coi là các giá trị văn hóa dân tộc, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân đƣợc thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó.
Nó đƣợc biểu hiện trong mối quan hệ với những ngƣời chung quanh, trong học tập, công tác, với bạn bè cùng trang lứa và thậm chí ngay cả với chính bản thân họ. “Hành vi ứng xử có văn hóa là những phản ứng của con ngƣời trong quá trình giao tiếp đƣợc điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của nhân cách và chịu sự quy định bên ngoài của chuẩn mực xã hội”. Thơ ca, truyện 1. Thơ ca Thơ ca là các sáng tác văn học bằng văn vần.
[10, tr 676] 21 Thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài ngƣời. Chính vì vậy mà có một thời gian dài thuật ngữ thơ đƣợc dùng chỉ chung cho văn học. Thơ có lịch sử lâu đời nhƣ thế nhƣng để tìm một định nghĩa thể hiện hết đặc trƣng bản chất của nó cho việc nghiên cứu thơ ngày nay thì thật không dễ. Thơ ca là tinh hoa của ngôn ngữ, là kết tinh vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ, là sản phẩm trí tuệ và tình cảm của nhiều thế hệ nối tiếp nhau.
Truyện Về truyện, riêng nó cũng bao gồm nhiều thể loại: Truyện cổ tích, truyện đồng thoại, truyện ngụ ngôn, truyện loài vật, truyện ngắn, tiểu thuyết đời xƣa, đời nay. [5, tr51] + Truyện cổ tích: là một thể loại văn học đƣợc tự sự dân gian sáng tác có xu thế hƣ cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lƣu và cổ tích loài vật. + Truyện loài vật: là một thể loại đƣợc viết một các nghiêm túc dƣới cái nhìn khoa học về đời sống của động vật. Đó là những câu chuyện sinh động về thế giới loài vật.
+ Truyện đồng thoại: là một thể loại đặc biệt của văn học, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và tƣởng tƣợng. Nhân vật chính thƣờng là những động vật, thực vật và những vật vô tri vô giác đƣợc nhân cách hoá để tạo nên một thế giới thần kỳ, phù hợp với trí tƣởng tƣợng của trẻ nhỏ.