CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.1 Ngoài nước Ở nước ngoài, vấn đề dạy học Lịch sử cũng được rất nhiều nước quan tâm, đặc biệt là các nước châu Á. Với bề dày hàng nghìn năm Lịch sử, việc dạy học Lịch sử ở các nước này cũng gặp nhiều khó khăn như nước ta. Và một trong những hướng giải quyết là sử dụng bản đồ tư duy. Chẳng hạn như vấn đề về dạy học lịch sử Hồi giáo tại Malaysia.
Trong đề tài nghiên cứu “Mind mapping approach in learning history” của Dhiyauddin Aziz, Marina Ismail (2018) có đề cập đến hiện nay, hầu hết thanh thiếu niên Malaysia biết rất ít về lịch sử Hồi giáo và các nền văn minh của nó. Mặc dù lịch sử và các nền văn minh Hồi giáo được đề cập ngắn gọn trong giáo trình của trường học Malaysia, nhưng sự đánh giá cao đối với chủ đề này là rất ít. Điều này là do cách tiếp cận truyền thống của việc học lịch sử Hồi giáo không đủ hấp dẫn để các sinh viên thưởng thức và hiểu vấn đề này. Khả năng của các công cụ đa phương tiện mạnh mẽ mới đã cho phép phát triển một ứng dụng cải tiến nhằm tạo điều kiện cho môi trường giảng dạy và học tập tốt hơn.
Do vấn đề này, cách tiếp cận 'Bản đồ tư duy' cùng với nền tảng lý thuyết của các nhiệm vụ dạy và học được nghiên cứu và điều chỉnh trong quá trình phát triển phần mềm Lịch sử Hồi giáo. Các khóa học phát triển đã được thử nghiệm với các mẫu thử nghiệm từ 10 người trở lên về hiệu quả và trải nghiệm người dùng khi dùng bản đồ tư duy. Kết quả mang lại kết quả tích cực dựa trên thiết kế độc đáo và thú vị. Nghiên cứu này đã đem lại nhiều sự thay đổi cho việc dạy học Lịch sử Hồi giáo tại quốc gia Đông Nam Á này.
Nó cũng chứng tỏ được vấn đề rằng chỉ khi sử dụng những phương pháp thực sự thích hợp thì việc dạy học Lịch sử mới trở nên dễ dàng và có hiệu quả.2 Trong nước Vấn đề tìm ra phương pháp dạy học mới trong dạy học lịch sử luôn là môt đề tài được quan tâm ở nước ta. Có rất nhiều những công trình nghiên cứu, các bài báo, các sáng kiến kinh nghiệm đề cập đến vấn đề này. Công trình lớn nhất nghiên cứu về vấn đề phương pháp dạy học Lịch sử là bộ sách “Phương pháp dạy học Lịch sử” (Phan Ngọc Liên) (2007). Công trình này đề cập đến bộ phân môn Lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam hiện nay, việc hình thành tri thức lịch sử cho học sinh, việc giáo dục học sinh qua dạy học Lịch sử và hệ thống các phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay và vai trò của hoạt động ngoại khóa 4 trong dạy học Lịch sử cũng như những phẩm chất, năng lực người giáo viên dạy Lịch sử cần có.
Đây là bộ sách dùng cho sinh viên trường Đại học Huế khoa Sư phạm Lịch sử. Nội dung của nghiên cứu này chủ yếu đưa ra những phương pháp dạy học Lịch sử và cách tiến hành những phương pháp truyền thống. Có nhiều nghiên cứu là các sáng kiến kinh nghiệm của các giáo viên Tiểu học đưa ra về việc cải tiến để việc dạy học Lịch sử có hiệu quả hơn. Các phương pháp được nêu lên nhiều nhất chính là: - Tích cực sử dụng công nghệ thông tin hiện đại trong quá trình dạy học môn học Lịch sử của tác giả Đào Mạnh Tưởng với sáng kiến kinh nghiệm “Sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại trong bài 11 lịch sử 10”.
- Giáo viên nên để học sinh được bày tỏ quan điểm ý kiến nhiều hon về các vấn đề Lịch sử thay vì các truyền đạt như lâu nay vẫn thường dùng và sử dụng kênh hình hiệu quả hơn trong sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Lịch sử 4” của tác giả Phạm Thị Thúy Lan - Tích cực cho học sinh tham quan các địa điểm, các công trình lịch sử để các em được thấy, được trải nghiệm để yêu hơn Lịch sử nước nhà của Phạm Thị Cẩm Loan trong đề tài “Áp dụng một vài kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả giảng dạy trong phân môn Lịch sử cho học sinh lớp 4, 5”. Các tài liệu này chưa đề cập đến dạy học Lịch sử bằng bản đồ tư duy, đặc biệt là ở tiểu học. Tuy nhiên những đề tài này là nguồn tài liệu bổ ích để tôi thực hiện đề tài này.2 Khái quát về năng lực 1.1 Năng lực 5 Hình 1.1: Khái niệm về năng lực Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì năng lực có thể được hiểu theo 2 nét nghĩa: Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó. Là một phẩm chất tâm sinh lý tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao.114] Như vậy, từ 2 nét nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là một cái gì đó vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là một khả năng được bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống.
Khía cạnh hiện thực của năng lực là cái mà nhà trường phổ thông có thể tổ chức hình thành đánh giá học sinh. Theo chương trình giáo dục trung học Quebec – Bộ Giáo dục Canada 2004 thì “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”. Theo chương trình giáo dục của New Zealand dịnh nghĩa năng lực là khả năng hành động hiệu quả hay là sự phản ứng hành động trong các tình huống phức tạp nào đó. Chương trình cải cách giáo dục ở Indonesia nêu rõ năng lực là những kiến thức, kỹ năng và các giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân.
Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có 6 năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kỹ năng và các giá trị cơ bản. Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”, [Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nguyễn Kế Hào, NXB Đại học Sư phạm]. Nhà tâm lý học A.Rudich đưa ra quan niệm về năng lực như sau: năng lực đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu.
Năng lực đó là năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành năng lực. Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn đo tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. Tóm lại, năng lực là khả năng vân dụng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm với một niềm tin, ý chí để thực hiện thành công một công việc nào đó xuất hiện trong bối cảnh của cuộc sống.
Các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh tiểu học theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã công bố mục tiêu giáo dục học sinh phổ thông để rèn luyện tốt 5 phẩm chất và 10 năng lực. Chương trình các môn học và sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy khi triển khai đều hướng tới mục tiêu này. Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất chủ yếu là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Chương trình cũng hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi gồm: - Những năng lực chung, được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: + Năng lực tự chủ và tự học: Xác định được nhiệm vụ hoạc tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện.
Lập 7 được kế hoạch học tập nghiêm túc, nề nếp; thực hiện được các cách học tập: Hình thành cách ghi nhớ của bản thân; phân tích nhiệm vụ học tập để lựa chọn được các nguồn tại liệu đọc phù hợp; các đề mục, các đoạn bài ở sách giáo khoa, sách tham khảo, Internet; lưu trữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt với đề cương chi tiết, bằng bản đồ khái niệm, biểu đồ, các từ khóa; ghi chú bài giảng của giáo viên theo các ý chính; tra cứu tài liệu ở thư viện nahf trường theo yêu cầu của nhiệm vụ học tập. Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp các khó khăn trong học tập. + Năng lực giao tiếp và hợp tác: Bước đầu học sinh biết đặt ra mục đích giao tiếp và hiểu được vai trò quan trọng của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp; thiết lập và ohast triển các quan hệ xã hội, điều chỉnh và hóa giải các mâu thuẫn. Học sinh xác định mục đích và phương thức hợp tác; khiêm tốn, lắng nghe tích cực trong giao tiếp, nhận ra được bối cảnh giao tiếp, đặc điểm và thái độ của đối phương.
Ngoài ra các em diễn đạt được ý tưởng một cách tự tin, thể hiện được biểu cảm phù hợp với đối tượng và bối cảnh giao tiếp.