CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Trong lịch sử giáo dục, van đề dạy học phân hoá đã có từ lâu, đã được thực hiện và đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, đặc biệt là ở Hoa Kỳ và Anh. Đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam nghiên cứu vấn đề dạy học phân hóa.
Theo triết lí giáo dục của John Dewey (1859 — 1952) là: Mục đích của giáo dục phải dựa trên cơ sở những hoạt động cụ thể và nhu cầu cá nhân, phải tạo ra sự liên hệ giữa các phương pháp dạy học, đồng thời phải cảnh giác với sự áp đặt khiên cưỡng của giáo viên. Ông cho rằng: “Mục tiêu giáo dục phải được căn cứ trên hoạt động và nhu cầu bên trong của các cá nhân cụ thể đang chiu sự giáo dục”. Thang đo Bloom được dé xuất vào năm 1956 bởi Benjamin Bloom, một nhà tâm lý hoc giáo dục tai Dai hoc Chicago (University of Chicago). Thang đo này được được xem là một công cu nền tang dé phân loại các mục tiêu và kỹ năng khác nhau mà các nhà giáo dục đặt ra cho học sinh (mục tiêu học tập).
Thang mức độ nhận thức cua Benjamin Bloom đã chia năng lực nhận thức của học sinh thành 6 loại: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tong hợp, đánh giá. Sáu cấp độ này có thé được sử dụng dé tạo các cấu trúc cho mục tiêu học tập, bài học và đánh giá khóa học. Dựa trên kết quả đánh giá học tập của học sinh, giáo viên có thé điều chỉnh nội dung đạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh của mình. Thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner chỉ ra lối hạn chế của ngành tâm lý lượng học trong quan niệm truyền thống về trí thông minh.
Ông cho rằng mỗi người đều có những loại trí thông minh khác nhau như: trí thông 7 minh ngôn ngữ, trí thông minh âm nhạc, trí thông minh tự nhiên, trí thông minh không gian — thị giác, trí thông minh logic — toán học, trí thông minh thể chất, giao tiép, nội tâm. Mỗi học sinh là một cá thé riêng biệt vì vậy sẽ có cách tiếp thu kiến thức và xử lí thông tin khác nhau. Học sinh có thể học qua nhìn — nghe — đọc — ghi chép và vận động. Việc phân loại phong cách học tập của học sinh kết hợp với thuyết đa trí tuệ giúp giáo viên hiểu rằng cách tốt nhất dé dạy học là thay đôi hình thức dạy học linh hoạt theo năng lực và nhu cầu của từng học sinh.
Việc dạy học đồng loạt cả lớp có nhiều điểm hạn chế và không đáp ứng được sự linh hoạt cần thiết. Hầu hết các giáo viên khi soạn giáo án đều cố găng thiết kế hoạt động dạy học tốt nhất với mọi đối tượng học sinh, tuy nhiên điều đó là không thé. Trong hau hết các trường hợp, hoạt động day học phủ hợp nhất với nhóm đối tượng học sinh này lại không thực sự phù hợp với nhóm đối tượng học sinh khác do sự khác biệt về nhu cầu học tập và cách thức tiếp nhận, xử lí kiến thức. Đề thu hút được nhiều học sinh tham gia vào các hoạt động học tập nhất, giáo viên phải điều chỉnh cả chương trình giảng dạy và hướng dẫn học sinh tiếp nhận, xử lí kiến thức theo các cách khác nhau.
Quá trình giáo dục sẽ đạt hiệu quả cao nhất khi có sự điều chỉnh linh hoạt về cách thức dạy học cho phù hợp với năng lực nhận thức, phong cách học tập cũng như sở thích, nhu cầu của học sinh. Dạy học phân hóa là chiến lược dạy học dựa trên nhận thức của giáo viên về năng lực nhận thức riêng biệt cũng như về nhu cầu, hứng thú và cách thức học của từng cá nhân người học. Khác với dạy học đại trà nội dung và cách dạy chủ trương áp dụng cho số đông, chiến lược dạy học phân hóa đi theo hướng cá nhân hóa với từng đối tượng học sinh. Những dấu hiệu cơ bản của dạy học phân hóa như: Sự quan tâm có hệ thống dành cho người học có đa dạng các nhu cầu đặc biệt; điều chỉnh nội dung kiến thức dé đáp ứng năng lực, kinh nghiệm và hứng thú của người học.
Tổ chức nhiều hình thức dạy § học, cách học (dạy học phân hóa theo mức năng lực của học sinh, phân hóa theo hình thức học tập, phân hóa dựa theo loại hình trí thông minh, nhóm tính cách của học sinh,.), cá nhân hóa người học giúp học sinh đạt được mục tiêu theo nhiều cách khác nhau. Từ đó khuyến khích người học chứng minh hiểu biết của mình theo nhiều góc độ có ý nghĩa, tôn trọng sự đa dạng trí tuệ trong môi trường học tập dựa vào nhu cầu và năng lực của học sinh. Ở Việt Nam Từ năm học 2006-2007, Bộ GD&ĐT đã chi đạo tô chức dạy học phân hóa theo hình thức phân ban kết hợp với tự chon ở cấp trung học phô thông. Chương trình giáo dục phô thông mới (2018) nhắn mạnh “Chương trình giáo dục phô thông bảo đảm phát triển phẩm chat và năng lực người học”.
Đề thực hiện tốt nội dung đó, dạy học phân hóa được xem như một trong những định hướng co bản của đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam nhằm phát triển nền giáo dục theo định hướng tiếp cận năng lực người học. Chương trình giáo dục cần quan tâm đến dạy học phân hóa ở cấp trung học phổ thông nhằm định hướng tốt hơn việc phân luồng, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Trên thực tế một vài năm trở lại đây, quan điểm phân hoá trong dạy học đã được quan tâm và đề cập đến, tuy nhiên việc dạy học phân hóa chưa thực sự được chú trọng. Giáo viên chưa được trang bị đầy đủ những hiểu biết và kỹ năng dạy học phân hóa, chưa thực sự coi trọng yêu cầu phân hoá trong dạy học.
Đa số các giờ học vẫn được tiễn hành đồng loạt áp dụng như nhau cho mọi đối tượng học sinh. Sự phân hóa đơn giản chỉ đang là phân dạng câu hỏi, bài tập ở các mức độ nâng cao và cơ bản cho học sinh. Do đó chưa phát huy được tính tối đa năng lực cá nhân của học sinh, chưa kích thích được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức, dẫn đến chất lượng giờ dạy không cao, chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục. Vấn đề dạy học cá nhân hóa nhằm phát huy được nhận thức tích cực, phù hợp với năng lực và được phát triển hết khả năng của học sinh dang là van đề cần quan 9 tâm.
Dé Ngọc Thống, trong chương trình giáo dục phổ thông mới, yêu cầu phân hóa được thể hiện trên tinh thần “quán triệt yêu cau đã nêu trong Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành TW về xây dựng và chuẩn hoá nội dung GDPT theo hướng “tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hoá dan ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chon”, chương trình GDPT mới thể hiện yêu câu phân hóa trên hai bình diện lớn: Phân hóa trong (vi mô) tiếp tục được quán triệt ở tat các các cấp, lép học, tất cả các môn học/hoạt động giáo dục; Phân hóa ngoài (vĩ mô) được thể hiện ở các cấp theo 2 hình thức: Xây dựng một số môn học theo các học phan (nô-ẩun) và các chu dé khác nhau dé học sinh tự chọn cho phù hop với nguyện vọng của bản thân và khả năng tô chức của nhà trường. ” Những năm gần đây đã có nhiều tác giả quan tâm về dạy học phân hóa như: “Day hoc phân hóa qua tổ chức ôn tập một số chủ dé phương trình, bat phương trình, hệ phương trình vô tỉ Trung học phổ thông” — Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục của tác giả Nguyễn Quang Trung, Đại học Sư phạm Thái Nguyên (2007). Dạy học phán hóa nhằm phát triển tư duy tích cực cho học sinh đối với chủ dé “Khảo sát ham số và ứng dụng” — Luận văn thạc sĩ sư phạm Toán của tác giả Cao Hưng Hà, Đại học Giáo dục (2015). Năng lực giải quyết vấn đề 1.
Khái niệm năng lực giải quyết van dé Giải quyết van đề (GQVD) là một trong những kĩ năng vô cùng cần thiết trong công việc và cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, kĩ năng này lại chưa thực sự được chú trọng trong công tác giảng dạy tại các trường học cũng như trong các khóa học kĩ năng mềm. Vậy giải quyết vấn đề là gì? Năng lực giải quyết van đề được hiểu như thé nào? Giải quyết van đề được hiểu là các “hoạ động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức, vì can huy động tat cả các năng lực trí 10 tuệ của cá nhân. Dé giải quyết van dé, chủ thể phải huy động trí nhó, tri giác, lý luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ, đông thời sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở năng lực bản thân và khả năng kiểm soát được tình thé” (Theo Nguyễn Cảnh Toàn, 2012, Xã hội học tập — học tập suốt đời).
Vậy có thé hiểu đơn giản giải quyết van đề là hoạt động mà con người cần phải nhận diện được tình huống có van dé, từ đó tư duy được các cách thức dé hóa giải tình huống có van dé, hoàn thành được công việc của mình, hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Đối với học sinh, giải quyết van dé được hiểu đơn giản là học sinh có thể nhận diện được dạng bài tập, tình huống có vấn đề. Từ đó tìm ra lời giải, giải pháp cho vấn đề đang gặp phải. Khi áp dụng vào các tình huống thực tế, học sinh có thê sử dụng cách tư duy tương tự dé xử lí tình huống một cách hiệu quả.
Trong đánh giá PISA 2012, năng lực giải quyết vấn đề được định nghĩa như sau: “Năng luc giải quyết van dé là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống van dé khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng. Nó bao gom sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống van dé đó — thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và xây dựng”. Hay nói một cách khác, năng lực giải quyết vấn đề được hiểu đơn giản là cách một cá nhân nào đó tư duy linh hoạt, có tô chức kiến thức ki năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhan,. dé có thé nhận biết được tình huống có van đề và tìm ra giải pháp hiệu quả nhất dé xử lí tình huống đó.